Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Việt Nam Quốc Dân Đảng và những gương hy sinh vì nước...

Đây là một trong những đảng cách mạng đầu tiên trong nội địa Việt Nam, qui tụ sự nối kết giữa giới học thức, điền chủ trung lưu và quân nhân do Pháp đào tạo, với mục đích giải phóng đất nước bằng võ lực. Chào đời vào dịp Giáng Sinh 1927, Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ] hoạt động được hơn hai năm thì bị Pháp khám phá và hủy diệt sau nỗ lực bi hùng vào đầu năm Canh Ngọ (1930), lưu lại một gương sáng lịch sử “không thành công thì thành nhân.” 

VNQDĐ khởi xuất từ nhóm Nam Đồng Thư Xã của Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài, Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân) v.. v..một cơ sở bán sách và xuất bản tại Hà Nội. Họ đại diện cho giai đoạn giao thời, chuyển tiếp từ lập trường trung quân qua ái quốc; từ độc tôn chủng tộc Trung Cổ qua đa nguyên chủng tộc và văn hóa hiện đại—theo kiểu mẫu quốc gia 

Nguyễn Thái Học

I. GIAI ĐOạN 1927-1930:

Thành hình từ mùa Hè 1927 tại Hà Nội, qua việc liên kết giữa hai nhóm người yêu nước do Nguyễn Thái Học (1901-1930) và Nguyễn Khắc Như (tức Xứ Nhu, 1884-1930) lãnh đạo. Chính thức khai sinh đêm 24/12/1927 tại ngoại ô Hà Nội, VNQDĐ bành trướng nhanh ở miền Bắc, và thiết lập được một số chi bộ ở Trung (An Nam) và Nam Kỳ (Cochinchine). Sự phát triển khác biệt này phản ánh tình trạng vương quốc Việt Nam hay Đại Nam bị thực dân Pháp chia làm ba “xứ” [pays]: Nam Kỳ là một thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ, và Bắc Kỳ (Tonkin), một xứ nửa bảo hộ, nửa thuộc địa từ năm 1874-1886. 

2. Nghị định ngày 27/1/1886 qui định tổ chức Nhà nước Bảo hộ xứ Annam và Tonkin. Tại Huế, có Tổng trú sứ [Résident général], Trung và Bắc có Résident Supérieur (gọi là Thống sứ ở Bắc và Khâm sứ ở Trung).

Paul Bert được bổ nhậm chức Tổng trú sứ Annam-Tonkin đầu tiên. Tuyên bố ở Hạ Viện Pháp: "Tôi muốn chinh phục dân An Nam bằng bàn tay mở rộng và thanh gươm đeo bên hông." 31/1/1886: Tướng Charles Warnet: XLTV Tổng trú sứ; Arthur Dillon, Khâm sứ; và Paulin Vial, Thống sứ. 28/3/1886: Bert tới Sài Gòn. 2/4/1886: Bert tới Hà Nội. 8/4/1886: Bert chính thức nhận chức Tổng trú sứ [tới ngày 11/11/1886]. 25/4/1886: Tướng Warnet rời Hà Nội.Gửi Petrus Ký ra Huế để khuyến khích Đồng Khánh đưa cả hai tay cho Pháp.

Gần 12 năm trước, Dupré cùng Lê Tuấn, Thượng thư Bộ Hình, Chánh sứ, và Nguyễn Văn Tường, Phó sứ, ký Hoà ước ngày 15/3/1974 hay 27/1 Tự Đức 27 [Giáp Tuất] nhường cho Pháp Nam Kỳ, và tự do giao thông trên sông Hồng.

Cách tổ chức mô phỏng theo Việt Nam Kách Mệnh Thanh Niên Hội [VNKMTNH] do Lý Thụy tức Nguyễn Sinh Côn, tức Hồ Chí Minh (1892-1969) khai sinh tại Canton [Quảng Châu] vào tháng 6/1925 với nòng cốt là nhóm Tam Tâm Xã của Hồ Bá Cự (Tùng Mậu, 1896-1951), Lê Văn Phan (Hồng Sơn, 1899-1932), Phạm Thành Khôi (Hồng Thái, 1896-1924), qui tụ những thanh niên chủ trương bạo động liên hệ với Phan Bội Châu và Cường Để, lãnh tụ phong trào Đông Du. Hai hành động đáng kể nhất của nhóm này là việc ám sát Phan Bá Ngọc đầu năm 1922, và vụ ám sát hụt Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (8/1923-4/1925) tại Sa Diện, Quảng Châu, của Phạm Thành Khôi tối 18/6/1924. 

 Sau này, VNTNKMĐCH được coi như tiền thân Đảng Cộng Sản Đông Dương, trong giai đoạn I, tức thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, trước khi chuyển qua cách mạng thế giới của công nhân vô sản [proletariat revolution] dưới sự hướng dẫn của Liên Sô Nga, (đã ngừng hiện hữu từ cuối năm 1991).

Vào đầu thế kỷ XXI, ngay đến chế độ Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa và Đảng Trung Hoa Cộng Sản dường đã tạm hài lòng với việc duy trì chế độ cầm quyền độc tài “kinh tế thị trường,” “định hướng xã hội chủ nghĩa,” “tư tưởng Mao Trạch Đông,” “lý luận Đặng Tiểu Bình,” sát nhập và đồng hóa các sắc dân Mãn Châu, Mongol, Tibet, Lolo và sử dụng “luật rừng”—tức sức mạnh quân sự—để độc chiếm vùng trời cùng biển Đông và Đông Nam Á. Trung Nam Hải đã coi thường công pháp quốc tế đến độ in một bức hình hải quân Đài Loan đứng bên một trụ bê-tông được dựng lên ở đảo “Thái Bình” vào cuối tháng 12/1946, nhưng chẳng đề cập gì đến yếu tố khả năng tự tồn cho cư dân. Việc xâm chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa năm 1974, và Trường Sa năm 1988, trên thực chất, chẳng khác gì việc làm của quân phiệt Nhật từ 1938 tới 1940. Những dấu chấm ranh giới mới trên bản đồ lãnh hải của đế quốc định hướng xã hội năm 2009 này hàm chứa mối đe dọa cho cả Đài Loan, Philippines, Indonesia và Australia, và nhất là con cờ siêu domino Nhật Bản (Japan) của Liên Bang Mỹ—khiến không thể không nghĩ tới một kế hoạch khuyến khích và giúp đỡ Nhật tái vô trang để tự vệ và cầm chân Trung Cộng trong giai đoạn sơ khởi nếu chiến tranh thứ ba xảy ra.  Đừng quên những người tự nhận Cộng Sản luôn luôn khai thác đối đa binh lực và bạo lực để giành phần thắng lợi, bất chấp mọi giá trị đạo đức hay nhân đạo. Mao Nhuận Chi, chẳng hạn, từng tính toán rằng chiến tranh nguyên tử có thể giết chết một nửa dân Trung Hoa, số còn lại vẫn sẽ đứng lên làm cách mạng vô sản. Chủ tịch nhà nước Nhân Dân Cộng Hòa Trung Hoa Tập Cận Bình, so với chủ tịch Bắc Triều Tiên, cũng chẳng khác biệt nhau bao lăm trong ước muốn sử dựng bạo lực.

Theo lý thuyết, VNQDĐ có một Tổng bộ, ba Kỳ bộ, xuống thấp hơn là Tỉnh bộ, rồi Chi bộ (cơ sở địa phương). Tổng bộ gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, và 8 ủy viên (tổ chức, tuyên truyền, tài chính, trinh thám, ngoại giao, binh vụ, giám sát và ám sát). Các cấp lãnh đạo từ trung ương xuống địa phương được bầu lại sáu tháng một lần. Mỗi cán bộ muốn được nhập đảng phải có hai người giới thiệu và bảo đảm, rồi qua một giai đoạn tập sự trước khi làm lễ tuyên thệ. 

Chương trình hành động chia làm ba [3] giai đoạn. Giai đoạn phôi thai, tuyển mộ cán bộ và xây dựng tổ chức (tuyệt đối bí mật). Giai đoạn thứ hai, giai đoạn dự bị (bán công khai). Và, giai đoạn chót là hành động (nổi dạy đánh Pháp bằng võ lực). Cơ quan ngôn luận là Hồn Cách Mạng, nhưng chỉ ra được một số. Cuối năm 1928, VNQDĐ có hơn 100 chi bộ, với 1,500 đảng viên, kể cả 120 người trong các cơ lính khố đỏ và Không quân của Pháp.

Từ năm 1928, VNQDĐ muốn kết hợp với các tổ chức khác—nhất là VNKMTNH của Cộng Sản—nhưng không thành công. Những nỗ lực phát triển vào Trung và Nam cũng bị trở ngại vì [Tân Việt] Cách Mạng Đảng ở miền Trung (đổi tên thành Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn từ ngày 1/1/1930), và giáo phái Cao Đài tại miền Nam. Tại miền Bắc, chiếc nôi của Đảng, mọi hoạt động không phát triển hoàn toàn tốt đẹp. Nỗ lực kinh tài theo đường lối hợp pháp (như mở khách sạn Việt Nam ở Hà Nội) bị thất bại. Một số cán bộ đã phải kiếm tiền bằng cách trấn lột dân chúng. Nhưng mối hiểm họa to lớn nhất là sự xâm nhập của nhân viên mật thám Pháp vào sâu các cơ sở—người chỉ huy những cuộc càn quét là trung ủy đặc trách quân sự. 

Sau vụ ám sát Horné Bazin, chủ một công ty mộ phu ở Hà Nội ngày 9/2/1929, Mật thám Pháp mở màn một đợt khủng bố trắng, từ bắc chí nam. Sáng 17/2, Pháp lùng bắt hàng trăm đảng viên VNQDĐ. Chỉ có Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Như thoát nạn. Cuối tháng đó, Thống sứ Pháp lập một Hội đồng đề hình dưới quyền Jules Bride để xét xử 217 người. Ngày 2/7/1929, Bride kết án 76 trong số 78 người bị truy tố. Nguyễn Thái Học bị án 20 năm khổ sai khuyết tịch. Nguyễn Thế Nghiệp (1906-1945), Chủ tịch Ban Hành Pháp VNQDĐ từ tháng 12/1928; cũng bị án tù, nhưng được Bride phóng thích để truy tầm Nguyễn Thái Học chuộc tội.

Phần bị săn đuổi ráo riết, phần muốn tránh cảnh bị âm thầm tận diệt trong tay Pháp, tại Hội nghị Võng La, Phú Thọ, ngày Chủ Nhật, 26/1/1930 [27/12 Kỷ Tị] Nguyễn Thái Học cho lệnh tổng khởi nghĩa. 

Theo dự trù, Vũ Văn Giảng (sau này đổi thành Vũ Hồng Khanh, 1907-1993) phụ trách việc nổi dậy ở miền Kiến An (nam Hải Phòng), tức khu vực có nhiều mỏ than và công xưởng kỹ nghệ. Nguyễn Khắc Như và Phó Đức Chính chỉ huy ở vùng Trung Du (Yên Báy, Hưng Hoá, Lâm Thao, và Sơn Tây). Đích thân Nguyễn Thái Học phụ trách vùng Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại và Hải Dương. Phần Nguyễn Thế Nghiệp qua—có nhiệm vụ đưa quân Vân Nam về tấn công Lào Kay (biên giới Hoa Việt, đối diện Hà Khẩu, tức Trấn Phòng. cách Hà Nội 298 cây số, bắc Yên Bái, 140 cây số), để yểm trợ cuộc nổi dạy ở Yên Báy. 

Yên Báy hay Bái là một tỉnh trung du, nằm trên đường xe lửa Hải Phòng-Vân Nam, tây bắc Hà Nội 156 km. Tiếp tục đi hướng tây bắc, cây số 237 là Bảo Hà, cây số 256, biên giới cũ tỉnh Lào Cai, cây số 262 là Phố Lu (huyện lỵ Thủy Vĩ), cây số 298, tỉnh lỵ Lào Kay hay Cai. Từ Yên Bái tới tới Tuyên Quang, hướng đông 61cây số [đường bộ]. Qua sông Hồng, có đường đi Nghĩa Lộ, Sơn La. Hiện nay, cùng với Lào Cai họp thành tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Ít ngày sau, khi thấy Pháp phong thanh biết được kế hoạch nổi dạy, Nguyễn Thái Học dời ngày khởi nghĩa tới Thứ Bảy 15/2/1930. Vì đã điều lực lượng vào vị trí, và phần vì phương tiện liên lạc bị giới hạn, Nguyễn Khắc Như vẫn tiếp tục kế hoạch cũ.

A. Cuộc Khởi Nghĩa Tết Canh Ngọ:

Khoảng 1 giờ sáng Thứ Hai 10/2/1930—tức đêm 11 rạng 12 Tết Canh Ngọ—cán bộ VNQDĐ trong cơ lính khố đỏ ở Yên Báy (156 cây số tây bắc Hà Nội, 194 cây số nam Lào Kay, từ năm 1975 thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn) nổi lên giết chết 11 sĩ quan và Hạ sĩ quan Pháp, gây thương tích cho 10 người khác. Những cán bộ từ xuôi kéo lên của Phó Đức Chính cũng chiếm được phố chợ trong đêm. Tuy nhiên, quân Pháp cố thủ được Đồn Cao. Nhờ Không quân yểm trợ, nội trong ngày 10/2, quân Pháp phản công, làm chủ được tình hình. Hầu hết cán bộ VNQDĐ đều bị giết hoặc bắt giữ. Phó Đức Chính chạy về Sơn Tây, nhưng cũng bị bắt ngày 15/2 tại nhà một quản binh 

Trong đêm Chủ Nhật 9 rạng 10/2, Nguyễn Khắc Như tấn công đồn Hưng Hoá (nay là huyện Tam Nông, đông nam tỉnh Phú Thọ 22 cây số). Thất bại, Xứ Nhu kéo quân qua chiếm huyện lị Lâm Thao. Nhưng chỉ nội sáng ngày 10/2, quân khởi nghĩa đại bại. Xứ Nhu bị bắt rồi tự tử trong ngục tỉnh Phú Thọ (tỉnh lỵ, tây bắc Hà Nội 90 cây số, 62 cây số nam Yên Bái). 

Tại Hà Nội, ngày 10/2, ban ám sát của VNQDĐ cắt đứt giây điện tín tại vài nơi, ném 20 trái tạc đạn vào hai ty Cảnh sát, sở Hiến binh, nhà tù Hoả Lò và tư dinh Paul Arnoux, Chánh sở Mật Thám Bắc Kỳ. Một cán bộ trung ương của VNQDĐ là Lương Ngọc Tốn bị một nhóm thợ gốm bắt sống tại Gia Lâm.

Nói chung, cuộc khởi nghĩa thất bại nặng. Một trong những lý do là nhặng báo (mouchards) của Mật Thám đã gài cấy sẵn trong tổ chức, nên chính quyền Pháp biết trước, tăng gia phòng thủ. Ngoài ra, vào phút chót vì thiếu truyền thông, nên lệnh hoãn khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học không được phổ biến rộng rãi. Hơn nữa, thực lực quân sự quá yếu kém. Đảng không tổ chức được một an toàn khu nào để huấn luyện cán bộ, lực lượng quân sự, hay ẩn náu lúc cần.

Những ngày kế tiếp, Pháp hành quân tảo thanh khắp nơi. Tại Hải Dương, hàng chục người bị bắt giữ nội trong ngày 12/2. Bốn ngày sau, khi Trần Quang Diệu tấn công Vĩnh Bảo, giết chết Tri huyện Hoàng Gia Mô, phi cơ Pháp ném xuống làng Cổ Am 57 trái bom 10 ki-lô, xoá tên làng này, giết chết tới 200 người (nay thuộc Hải Phòng). Hàng chục thôn xóm khác ở Phú Thọ, Kiến An, Bắc Giang và Phả Lại cũng bị tàn phá hay thiêu hủy. Cuộc khủng bố trắng chỉ tạm lắng xuống sau khi Nguyễn Thái Học cùng vài thuộc hạ thân tín bị bắt ở ấp Cổ Vịt (Hải Dương) ngày 20/2/1930. 

Ngày 27/2/1930 [30/1 Canh Ngọ], Hội Đồng Đề Hình Bắc Kỳ họp phiên đầu tiên xét xử mười lăm [15] chiến sĩ VNQDĐ tham dự cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Rồi tuyên bố mười ba [13] án tử hình, một  chung thân khổ sai, và một 20 năm khổ sai. Gaston Doumergue chỉ y bốn án tử hình. Ngày 8/3/1930, bốn chiến sĩ Đặng Văn Lương, Đặng Văn Tiệp, Nguyễn Thanh Thuyết và Ngô Hải Hoằng bị xử chém tại Yên Báy.

Gần một tháng sau, ngày 23/3/1930, Poulet Osier ngồi ghế Chánh án phiên tòa tại trại binh Yên Báy xét xử Nguyễn Thái Học cùng 82 chiến sĩ VNQDĐ. Hôm sau, Osier tuyên bố ba mươi chín [39] án tử hình, ba mươi ba [33] án chung thân khổ sai, chin [9] án 20 năm khổ sai, và năm [5] án tù, biệt xứ (kể cả nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bắc). Ngày 28/3/1930, Hội Đồng Đề Hình Bắc Kỳ lại nhóm xử 1,086 cán bộ VNQDĐ và tình nghi. 412 người được tha bổng, nhưng tám mươi [80] người bị tử hình, một trăm linh sáu [106] chung thân khổ sai, ba trăm tám mươi ba [383] người bị đầy, và một trăm linh năm [105] người tù từ 1 tới 20 năm.

Tại miền Nam, các chiến sĩ VNQDĐ bị xét xử chung với cán bộ VNKMTNH (Cộng Sản) từ ngày 15/7/1930. Ngày 18/7, ba [3] cán bộ VNQDĐ bị kết án 5 năm khổ sai, đầy ra Côn Đảo (Trần Huy Liệu, Cao Hữu Tạo, và Nguyễn Phương Thảo). Sáu [6] người khác bị án từ 2 tới 4 năm, nhốt tại Hà Tiên (Nguyễn Hào [Hòa] Hiệp, v.. v..).

B. DANH SÁCH LIệT SĨ QUốC DÂN ĐảNG Vị QUốC VONG THÂN:

1. Xứ Nhu Nguyễn Khắc Như, 47 tuổi, quê Phủ Lạng Thương, Bắc Giang, tự tử trong ngục Phú Thọ.

2. Hạ sĩ [Cai] Nguyên, bị xử bắn ngày 11/2/1930 tại Yên Báy.

3. Hạ sĩ [Cai] Tính, bị xử bắn ngày 11/2/1930 tại Yên Báy.

Tuẫn quốc ngày 8/3/1930 (9/2 Canh Ngọ) tại Yên Báy:

1. Ngô Hải Hoằng, Hạ sĩ [cai].

2. Nguyễn Thanh Thuyết, Hạ sĩ.

3. Đặng Văn Lương, nông dân.

4. Đặng Văn Tiếp, nông dân.

13 Liệt Sĩ Tuẫn quốc ngày 17/6/1930 (21/5 Canh Ngọ) tại Yên Báy: 

1. Nguyễn Thái Học, 26 tuổi, làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương. Hôn thê là Nguyễn Thị Giang tự vẫn ngày hôm sau, 18/6/1930. (Marty, VNQDĐ, p. 21)

2. Phó Đức Chính, 23 tuổi, cán sự lục lộ tại Savanakhet, sinh quán làng Đa Ngưu, Bắc Ninh. [Theo PNTV, ngày 20/2/1930, Phó Đức Chính cũng bị bắt ở Sơn Tây, giải về Hà Nội. Ngày 20/3/1930, trong khi chờ ra Hội đồng đề hình [lần thứ hai], Phó Đức Chính tự vận. (7)

3. Nguyễn An, 31 tuổi, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

4. Hà Văn Lạo, 25 tuổi, thợ hồ.

5. Đào Văn Nhít, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

6. Ngô Văn Du, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

7. Nguyễn Đức Thịnh, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

8. Nguyễn Văn Tiềm, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

9. Đỗ Văn Sứ, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

10. Bùi Văn Cửu, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy.

11. Nguyễn Như Liên, 20 tuổi, học sinh, sinh quán làng Cao Mại, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

12. Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi, quân nhân, phục vụ tại Yên Báy. 

13. Bùi Tử Toàn, 37 tuổi, nông dân, sinh quán: làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

5 Liệt Sĩ Tuẫn quốc ngày 22/11/1930 (3/10 Canh Ngọ) tại Phú Thọ: 

1. Nguyễn Văn Toại, tức Đồ Thúy, 33 tuổi, nguyên quán Lâm Thao, Phú Thọ. 

2. Trần Văn Hợp, nguyên quán Thanh Ba, Phú Thọ. 

3. Phạm Nhận, tức Đồ Điếc 

4. Lê Xuân Huy, 31 tuổi, nông dân, nguyên quán Cổ Pháp, Bất Bạt, Sơn Tây. 

5. Bùi Xuân Mai, nông dân, nguyên quán Bất Bạt, Sơn Tây.

9 Liệt Sĩ Tuẫn Quốc Tại Hà Nội:

Hy sinh vào cuối năm 1930:

1. Đặng (hay Đoàn) Trần Nghiệp, tự Ký Con (1908-1931), phố Hàng Sơn, Hà Nội.

2. Lương Ngọc Tốn, tự Chánh Tốn.

3. Nguyễn Văn Nho

4. Nguyễn Quang Triều

5. Nguyễn Minh Luân

6. Nguyễn Trọng Bằng

7. Nguyễn Văn Khuê, tự Cai Khuê.

Hy sinh ngày 23/6/1931 (8/5 năm Tân Mùi):

8. Lê Hữu Cảnh (1895-1931), cựu lính thợ (thông ngôn), nhân viên hoả xa, quê Hoàn Long, Hà Đông.

9. Nguyễn Xuân Huân. (Marty, VNQDĐ, p. 21-2)

4 Liệt Sĩ Tuẫn quốc ngày 23/6/1931 (8/5 năm Tân Mùi) Tại Hải Dương: 

1. Trần Quang Diệu (1888-1931), gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương. 

2. Vũ Văn Giáo

3. Trần Nhật Đồng

4. Nguyễn Văn Phúc

Liệt Sĩ Hy Sinh, Hay Tự Vẫn

1. Hoàng Đình Gị. (Marty, VNQDĐ, p. 22)

2. Hoàng Đình Vĩ

3. Đỗ Thị Tâm

C. Dư Luận về VNQDĐ:

Mặc dù cuộc nổi dậy của VNQDĐ bị dẹp tan nhanh chóng, hành động “không thành công thì thành nhân” của Nguyễn Thái Học và các đồng chí được dư luận trong nước cũng như ở hải ngoại nhiệt liệt ngưỡng mộ. 

Sinh viên Hà Nội bí mật lạc quyên giúp đỡ các nạn nhân. Một số báo ở Nam Kỳ như tờ Thần Chung và Phụ Nữ Tân Văn [PNTV] công khai vinh danh dũng khí của những “nhà cách mạng.” Ngày 6/3/1930, chẳng hạn, PNTV đăng một bài giới thiệu sự nghiệp Nguyễn Thái Học. Chẳng hiểu do lầm lẫn vô tình hay cố ý, tác giả cho vị lãnh tụ VNQDĐ xuất dương sang Quảng Châu 5 năm, sống bên Nguyễn Ái Quốc [tức Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969]. Sau đó, được Nguyễn Ái Quốc phong làm chỉ huy nội địa—thực ra, Nguyễn Sinh Côn đã trốn khỏi Quảng Châu từ năm 1927, và chỉ sống ở đây hơn hai năm. 

Tất cả những thành viên của Hội đồng Quản hạt [Conseil Colonial] Nam Kỳ tới thăm Thống Đốc Jean Félix Krautheimer (1929-1934) để bày tỏ sự ủng hộ của họ trong việc dẹp loạn. Trong buổi họp này, Nguyễn Phan Long (1889-1960) đề nghị nên sử dụng hơi ngạt và “vòi rồng” để chống lại các đoàn biểu tình. Thực tâm nhóm Lập Hiến chống lại những cuộc đánh bom khu vực mà Pháp mệnh danh là “ô nhiễm” [contaminé]. Và, mối lo ngại chính của họ là khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn” được trưng lên trong những cuộc đình công, biểu tình của CS—cùng những đợt khủng bố đỏ [la terreur rouge] như dìm chết cả một gia đình ba người, kể cả đứa con gái hai tuổi, của một đảng viên bị cáo buộc “phản Đảng.”

Tại Pháp, sinh viên và thợ thuyền tổ chức hội thảo, biểu tình hay rải truyền đơn chống đàn áp và “thảm sát” (massacre) ở Đông Dương. Gây tiếng vang nhất là cuộc mít-tinh trước điện Elysées của hơn 100 Việt Kiều ngày 22/5/1930, đưa đến việc bắt giữ 47 người, và trục xuất 19 học sinh, sinh viên về nước ngay cuối tháng 5/1930. Trong số này có Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương, v.. v.. cùng một số đảng viên Việt Nam Độc Lập, và Đảng Cộng Sản Pháp.

11. Huỳnh Văn Phương (1906-1945) thuộc một gia đình đại điền chủ, chú ruột Huỳnh Tấn Phát. Học Chasseloup-Laubat Sài Gòn, rồi qua Pháp năm 1927. Học luật ở Paris. Tham gia Việt Nam Độc Lập Đảng do Nguyễn Thế Truyền thành lập, với một số cán bộ của Công đoàn thuộc địa Đảng Cộng Sản Pháp. Sau khi Nguyễn Thế Truyền về nước, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Phương điều khiển. Phương viết báo La Résurrection (Phục Hưng). Tham gia “Tả phái đối lập” cùng Thâu, Chánh. 30/5/1930, bị trục xuất cùng Thâu. 1933-1936: Nhóm La Lutte. 1935: Ủng hộ Dương Văn Giáo tranh cử Hội đồng quản hạt. 1936: Ra Hà Nội. Tốt nghiệp luật. Cộng tác với báo Le Travail. Về Sài Gòn, làm luật sư. 9/3/1945: Lập nhóm Trí Thức. Tham gia MTQGTN của Hồ Văn Ngà. 19/8/1945: Đựợc Ngà, quyền Khâm sai Nam Bộ, cử coi Mật Thám cùng với Hồ Vĩnh Ký. Nếu tin được Trần Bửu Kiếm, Luật sư Phương đã phóng thích một số cán bộ CS bị Nhật giam giữ, cung cấp vũ khí cho Trần Văn Giàu, và thu nhận một số cán bộ CS vào lực lượng công an. Theo những người chống Đệ Tam QTCS, Luật sư Phương tìm thấy tập hồ sơ về Trần Văn Giàu do Ichikawa để lại. Sao làm 4 bản gửi cho Huỳnh Phú Sổ, Hồ Vĩnh Ký, Dương Văn Giáo nên bị Trần Văn Giàu giết. Theo tài liệu văn khố Pháp, Luật sư Phương cũng hợp tác với Lâm Ủy Hành Chính trong giai đoạn đầu, và chỉ bị thủ tiêu sau ngày liên quân Pháp-Bri-tên và tù binh Nhật đánh chiếm Sài Gòn trong dịp cuối tuần 22-23/9/1945.

Khủng Bố Đỏ [La Terreur Rouge]:

Năm 1930, báo chí Pháp kiều tại Đông Dương cũng nghiêm khắc chỉ trích cuộc nổi dạy của Việt Nam Quốc Dân Đảng là chịu ảnh hưởng của Cộng Sản Trung Hoa. Tiêu biểu nhất là Henri Chavigny, bút hiệu Henri de la Chevrotière, trên l’Impartial/Trung Lập báo tại Sài Gòn. Là một người lai Pháp, Chatigny từng bị án đào ngũ, làm chỉ điểm cho Mật Thám, sau chuyển sang nghề cạp-rằng [caporal, cai thợ]. Tờ l’Impartial và rồi La Dépêche—vốn được trợ cấp hậu hĩ của chính quyền—khoác cho VNQDĐ tính chất bạo động theo kiểu Cộng Sản, như có những tổ ám sát [section de sicaires] để trừng trị những thành phần phản đảng. Phương cách giải quyết hữu hiệu nhất là dùng quân đội đàn áp, và bảo vệ an ninh cho dân chúng vô tội—một lập luận quen thuộc của Mật Thám Pháp ba năm sau trong tập tài liệu về VNQDĐ.

Quyết định “thanh Cộng” của Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek, hay JiangJieshi (1888-1975) vào tháng 4/1927, cùng chính sách Diệt Cộng của thực dân Pháp, được tăng cường với thánh lệnh năm 1929 của Vatican, bắt đầu phân cách tâm trí người Việt, dù đại đa số—kể cả một số trí thức tốt nghiệp tại Âu Châu hay Mỹ—chẳng hiểu “Cộng Sản” là gì. Thực ra, Cộng Sản [gongshan hay gongchan] chỉ là tiếng Hán dịch sai thuật ngữ “Communism” [công hữu nguyên thủy] của nhóm cán bộ Marxist Leninist người Hoa đầu tiên như Trần Độc Tú [Chen Duxiu], Lý Đại Chiêu [Li Dazhao]. Cán bộ CS phần lớn bị mê hoặc vì những bánh vẽ như “xã hội đại đồng,” “làm tùy theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.” Phe chống Cộng thì bị ám ảnh với những khẩu hiệu như đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng, vô thần, v.. v.. Chua chát nhất là bệnh chụp mũ, vu cáo người khác là Cộng Sản, hay phản động, phản cách mạng, lý lịch thiếu trơn tru. Động lực thường chỉ do ưa ghét cá nhân hay trục lợi cá nhân, phe đảng, hoặc để “bảo vệ trật tự, an ninh công cộng.” Dân biểu Justin Godart (sau khi tham quan Đông Dương năm 1937, và nhận được hàng trăm thư khiếu nại của người Việt), nhận xét rằng giới an ninh và chính quyền thực dân Pháp hay gán ép bừa bãi cho bất cứ ai có khuynh hướng chống lại ách đô hộ Pháp là Cộng Sản để có thể dễ bề buộc tội.

A. VNQDĐ HảI NGOạI:

Trong hai năm 1929-1930 đã có nỗ lực thành lập một Ban chấp hành Hải ngoại của VNQDĐ tại Côn Minh, thủ phủ Vân Nam. Nguyễn Thế Nghiệp (bí danh Trương Nguyên Minh), một cán bộ trung ủy, là người chủ xướng, với sự trợ lực của Đào Chu Khải, Dương Tự Thành và Nguyễn Kim Ngữ. Tháng 9/1930, nhóm hải ngoại được tăng cường thêm Vũ Văn Giảng (tức Vũ Hồng Khanh, 1907-1993), Trần Quốc Kính (Giáo Tuân), Bùi Đức Minh (Giáo Hạch), Đội Tháp v.. v...

Tháng 5/1931, Nguyễn Kim Ngữ đột ngột bị ám sát. Vụ này có nhiều giả thuyết khác nhau. Theo Nguyễn Thế Nghiệp, thủ phạm chính là Dương Tự Thành (tên thực Nguyễn Ngọc Cừ). Theo Lê Tùng Sơn, Thành không giết Ngữ mà chỉ do Vũ Văn Giảng (Vũ Hồng Khanh) xúi đứng ra nhận tội để bảo vệ cơ sở.

Ai là thủ phạm đi nữa, Nguyễn Thế Nghiệp, Đào Chu Khải, Dương Tự Thành, Vũ Văn Giảng cùng ba người khác bị nhà chức trách Vân Nam tống giam để điều tra. Cuối cùng, Dương Tự Thành bị tử hình, những người khác tù từ 37 tháng (Nghiệp và Khải) tới 13 tháng (Giảng, Hiếu, Đức và Hoa). Tuy nhiên, tháng 4/1933, Nghiệp đã được phóng thích. 

Sau vụ ám sát trên, từ tháng 10/1931, Giáo Tuân tách ra, lập nên nhóm Thiết Huyết. Năm 1932, Vũ Tiến Lữ (Vũ Bằng Rực) họp với nhóm Thiết Huyết tái tổ chức chi bộ Côn Minh. Lê Tùng Anh (sau này đổi thành Lê Tùng Sơn) làm Chi bộ trưởng; Vũ Tiến Lữ giữ Ngoại vụ, Trần Quốc Kính (Đông A), Nội vụ. Lê Tùng Anh, Bùi Đức Minh và Nguyễn Văn Đồi (Vương Thừa Vũ) sau đó được nhận vào trường lục quân Vân Nam. Khi Vũ Văn Giảng (Vũ Hồng Khanh) được tự do, Giảng cùng Kính bị trục xuất khỏi Vân Nam, tới Quí Châu tạm trú. 

Trong khi đó, tại Nam Kinh, thủ đô chế độ Quốc Dân Đảng Trung Hoa, từ năm 1932 nhóm Lệnh Trạch Dân, Hoàng Nam Hùng, Nghiêm Xuân Chí (Nghiêm Kế Tổ), Ngô Đình Ninh, Hoàng Văn Nội, Vy Đăng Tường (Vi Chính Nam), Hoàng Quả Định và Hoàng Quốc Thọ thành lập một chi nhánh VNQDĐ hải ngoại khác. Ngày 15/8/1933, hai chi nhánh Vân Nam và Nam Kinh hợp nhất. Vy Đăng Tường được bầu làm Chủ tịch, Đào Chu Khải làm phó, và Nghiêm Xuân Chí, Thủ quĩ. Các Ủy viên trung ương gồm có Vũ Tiến Lữ (Bằng Rực), Trần Ngọc Tuấn, Vũ Văn Giảng và Vũ Bá Biên. Dẫu vậy, hoạt động không có gì đáng kể. Mọi nỗ lực của QDĐTH thời gian này đều dồn vào việc kháng Nhật và “thanh Cộng.” 

Ít lâu sau, Đào Chu Khải bí mật đầu thú Pháp tại Thượng Hải. Lệnh Trạch Dân chết ở Nam Kinh, và Vy Đăng Tường qua đời ở gần Trùng Khánh. Ngày 22/6/1935, đến lượt Nguyễn Thế Nghiệp móc nối với tòa Tổng lãnh sự Pháp ở Thượng Hải, xin đầu thú. Ngày 1/7, Nghiệp được một nhân viên người Hoa của Lãnh sự Pháp tiếp xúc, và rồi được bí mật đưa về Việt Nam. Ngày 29/9/1936, Nghiệp được chính thức ân xá. 

Ngày 4/10/1936, đến lượt Vũ Văn Giảng (Vũ Hồng Khanh) bị chính quyền Vân Nam bắt giữ, rồi trục xuất qua Quảng Đông ngày 29/10 cùng năm. Gần một năm sau, ngày 28/6/1937, Giảng mới được phép trở lại Côn Minh. Từ ngày này, nhóm VNQDĐ cũ ở Vân Nam—được tăng cường thêm một số khuôn mặt mới như Chu Bá Phượng, Lê Khang (Ninh), Vũ Quang Phẩm—do Giảng lãnh đạo. Trụ sở chính đặt tại Côn Minh.

Trong khi đó, từ năm 1935, Trần Quốc Kính được Hà Huy Tập (Năm Nhỏ), Thư ký Ban Chỉ Huy Ở Ngoài của Đảng CSĐD, gửi về Vân Nam hoạt động cùng Vũ Anh. Giáo Kính cải biến toàn nhóm Thiết Huyết cũ thành chi bộ Cộng Sản đầu tiên ở Côn Minh, và được cử làm Bí thư. Tuy nhiên, họ vẫn hoạt động dưới danh nghĩa VNQDĐ. 

Từ năm 1937, nhóm Giáo Kính và Lê Tùng Sơn lập ra Việt Nam Dân Chúng Hưởng Ứng Trung Quốc Kháng Nhật Hội, tức Hội Chống Nhật, ở Vân Nam, được chính phủ địa phương công nhận và ủng hộ. 

B. PHONG TRÀO PHụC HƯNG VNQDĐ TRONG NƯớC (1936-1940):

Tại nội địa Việt Nam, ba cuộc phóng thích chính trị phạm trong năm 1936 khiến VNQDĐ có dịp hồi sinh. Một số lãnh tụ cũ tái lập lại các cơ sở. Năm 1937, VNQDĐ xuất bản tờ Le Message, nhưng chỉ ra được 3 số.  Năm 1939, Nguyễn Đình Đa, Nguyễn Văn Chấn, và Nguyễn Ngọc Sơn cũng xuất bản báo Zân. (chúng tôi chưa được tham khảo số báo này).

Tưởng nên ghi nhận là sau một thời gian lao tù tại Côn Đảo, một số cán bộ lãnh đạo VNQDĐ đã thay đổi lập trường. Trong số những người ngả theo Cộng Sản có Phạm Tuấn Tài, Nam Kiều Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo (Nguyễn Bình), v.. v... Theo Trần Huy Liệu, trước khi chết vì lao phổi tại nhà thương René Robin (Hà Nội), Phạm Tuấn Tài đã trao cho Liệu một “tuyên cáo chính trị,” nói về lịch sử VNQDĐ, và khuyên mọi người theo Đảng CSĐD.  Bản tuyên cáo chính trị này, dù đáng tin hay chăng, thêm một lần phân chia nội bộ Đảng thành hai phe Quốc-Cộng. 

III. GIAI ĐOạN 1940-1945:

Thế chiến thứ hai (1939-1945) và đặc biệt là việc Nhật chiếm đóng Đông Dương (1940-1945) mở ra một cơ hội hãn hữu cho các đảng phái Việt Nam gia tăng hoạt động. Là một đảng cách mạng chủ trương lật đổ Pháp giành độc lập, VNQDĐ kiên cường theo đuổi mục tiêu tối hậu của mình.

A. NộI ĐịA :

Ngoài các nhân vật quen thuộc như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khải, Nhượng Tống v.. v.. xuất hiện vài khuôn mặt mới trong nội địa. Đáng kể nhất là Ngô Thúc Địch (1900-?) và Phan Châm Nguyễn Tiến Hỷ. 

Ngô Thúc Địch sinh năm 1900 tại Hoài Đức, Hà Đông. Năm 1915 đậu Cử Nhân (thi Hương). Hai người anh cùng đỗ khoá này. Vì còn quá trẻ, Ngô Thúc Địch không được vào học trường Sĩ hoạn. Từ năm 1918, Địch bắt đầu học tiếng Pháp, rồi vào trường Cao Đẳng Pháp Chính từ 1920 tới 1924, tốt nghiệp hạng nhì, cùng với Nguyễn Đệ. Từ 1924 tới 1927, làm Tham tá tại Thanh Hoá. Sau đó, tham gia VNQDĐ, và đổi đi làm Lục sự Tuyên Quang (1927). Tháng 4/1929, bị bắt, kết án 2 năm tù treo, 5 năm biệt xứ vì hoạt động cho VNQDĐ. Năm 1930, bắt đầu vào làng báo; chủ bút Phụ Nữ Thời Đàm, và cộng tác với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trong An Nam Tạp Chí. Qua năm 1931, trở thành Giám đốc An Nam Tạp Chí. Sau một thời gian dạy tại trường Thăng Long, năm 1941, Ngô Thúc Địch tham gia ban biên tập Văn Hoá Tạp Chí. Từ năm 1944, hợp tác với Nhật.

Mùa Thu 1944, các cơ quan tình báo Nhật bắt đầu chuẩn bị lật đổ Pháp, và nối kết các đảng phái Việt thành một khối. Nhóm Nguyễn Thế Nghiệp, Nhượng Tống v.. v... bèn lập ra Tân Việt Nam Quốc Dân Đảng để hợp tác với các đảng bạn là Đại Việt Quốc Xã (ĐVQX) của Nguyễn Xuân Tiếu, Đại Việt Quốc Dân Đảng (ĐVQDĐ) của Trương Tử Anh-Nguyễn Tiến Hỷ, Đại Việt Dân Chính của Nguyễn Tường Long v.. v... Ngày 22/2/1945, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh (ĐVQGLM) bí mật thành hình ở Hà Nội, với sự tham dự của Nguyễn Xuân Tiếu (ĐVQX), Nguyễn Tường Long (ĐVDC), Trương Tử Anh (ĐVQDĐ), Bùi Như Uyên, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Nhượng Tống (VNQDĐ), Nguyễn Đăng Đệ, Nguyễn Xuân Dương tức Lạc Long.

Sau chiến dịch Meigo (9-12/3/1945), VNQDĐ hải ngoại cũng gửi một số cán bộ như Lê Ninh (tức Lê Khang) về nước để liên lạc các cơ sở, cũng như thu thập tin tức tình báo cho Đồng Minh. Bởi thế, ĐVQGLM quyết định cử một phái đoàn đại diện qua Hoa Nam để móc nối. Người được chỉ định cầm đầu phái đoàn này là Phan Châm Nguyễn Tiến Hỷ, một bạn học của Trương Tử Anh, thuộc nhóm sáng lập viên ĐVQDĐ. Phan Châm có khuynh hướng thân Hoa, bài Pháp, và chống Cộng.

B. HảI NGOạI:

Tại Hoa Nam, các cơ sở VNQDĐ cũng có cơ hội hoạt động mạnh. Sau khi Thế Chiến thứ II bùng nổ, năm 1941, Lư Hán giao cho Vũ Hồng Khanh tổ chức một lực lượng võ trang trực thuộc cơ quan tình báo của Lư Hán, tức Biên Chinh Đội, gồm khoảng 70 người tại Mông Tự; với các “trại” ở Văn Sơn, Mã Quan, Hà Khẩu và Đông Hưng. (Sơn, 1978:55)

Tại Quảng Tây, cuộc tranh chấp sự yểm trợ của TH giữa VNQDĐ và phe CS cũng rất cam go. Nguyên từ năm 1940, để đáp ứng tình hình, chính quyền Quảng Đông đã giao cho một cựu Đại tá là Trương Bội Công (tên thực Nguyễn Văn Chiêu) thành lập Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Ủy Viên Hội [VNDTGPUVH] để qui tụ các Việt kiều. Hội này ra mắt tại Liễu Châu vào tháng 8/1940. Nòng cốt gồm Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần và 2 Hoa kiều khác là Dương Thanh Dân và Mai Công Nghị 

Do mưu kế của Linov Nguyễn Sinh Côn, Trương Bội Công mời một số đảng viên CS gia nhập. Lúc đó, có Dương Hoài Nam (Võ Giáp), Vũ Anh (Phạm Đông Hải) và Cao Hồng Lĩnh từ Quế Lâm tới Tĩnh Tây. Hai bên đồng ý triệu tập Đại hội, đổi thành Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Minh [VNDTGPĐM].

Ít lâu sau, HCM cho lệnh thuộc hạ bỏ rơi Trương Bội Công, đưa Hồ Học Lãm về Quí Lâm lập lại tổ chức Việt Minh (đã vào sổ bộ ở Nam Kinh từ năm 1936). Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm, Phạm Văn Đồng (Lâm Bá Kiệt) làm Phó chi nhánh hải ngoại Việt Minh này. Tại Côn Minh, do áp lực của nhóm Lê Tùng Sơn, khoảng tháng 4/1941, tổ chức VNDTGPUVH cũng cải danh thành VNDTGPĐM, tức Hội Giải Phóng 

Từ đầu năm 1942, nhà chức trách Trung Hoa đã khám phá ra gốc gác Giáp và Đồng, và định bắt giữ hai người, nhưng Giáp và Đồng trốn thoát kịp thời. Hoàng Văn Hoan bị câu lưu một thời gian ngắn, rồi được phóng thích. Trương Bội Công cũng vì vụ này mà liên can, chịu cảnh tù đầy một thời gian. Tổ chức VNDTGPĐM (Hội Giải Phóng) bị mai một dần. 

Tháng 6/1942, nhằm tái hợp nhất các đảng phái chính trị Việt kiều ở Liễu Châu, chính quyền Trung Hoa đưa nhóm Nghiêm Kế Tổ, Vũ Hồng Khanh cùng 8 cán bộ VNQDĐ khác từ Côn Minh qua. Sau mấy ngày bàn thảo, ngày 10/8/1942, tất cả đồng ý thành lập một tổ chức mới, lấy tên Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội [VNCMĐMH]. Để phòng ngừa lầm lỗi của Hội Giải Phóng, họ loại bỏ Cộng Sản, và đặt tổ chức dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trương Phát Khuê, Tư lệnh QK IV (Quảng Tây). Vì sự chống đối của Hoàng Lương, một trong những người cầm đầu nhóm cựu Phục Quốc, mãi tới ngày 1/10/1942 VNCMĐMH mới có thể tổ chức Đại Hội ra mắt tại Liễu Châu.

VNQDĐ Hải ngoại chiếm đa số trong Ban Chấp Hành Trung ương (Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trần Báo, Trương Trung Phụng), các Ban (Tổ chức: Vũ Hồng Khanh; Liên lạc (Public Relations): Nghiêm Kế Tổ; Huấn luyện: Trần Báo), và ngay cả Ban Thường vụ.

Mỗi tháng, Trương Phát Khuê trợ cấp 100,000 quan kim. Trung tướng Liang Hua-sheng [Lương Hoa Thịnh], Giám đốc Chính Trị QK IV, được cử làm Giám đốc Đồng Minh Hội. Ngay sau khi thành lập, Việt Cách lo việc tuyển mộ nhân viên, xuất bản báo chí, tài liệu tuyên truyền, và thiết lập trụ sở tại Đông Hưng (Nghiêm Kế Tổ), Tĩnh Tây (Trần Báo), Long Châu (Hồ Đức Thành?), và một phân bộ tại Côn Minh (Vũ Hồng Khanh). 

Tuy nhiên, Việt Cách chỉ có bề ngoài mà thiếu thực lực. Các cán bộ lãnh đạo yếu kém. Trong khi đó, nạn bè phái vẫn sâu đậm, nhóm này chống nhóm kia, chỉ trích qua lại; nhiều người chỉ nói hão mà chẳng có hành động gì. Nguy hiểm hơn nữa, các đảng viên CS—dưới danh nghĩa Việt Minh, Hội Chống Nhật và Hội Giải Phóng (VNDTGPĐM)—liên tiếp phá hoại.

Khi Vũ Hồng Khanh trở lại Côn Minh vào tháng 1/1943 để thành lập một phân bộ Việt Cách tại đây, Lê Tùng Sơn—mới được tăng cường thêm nhóm Lê Thạch Sơn, Từ Chí Kiên, Phạm Toàn [hay Tuân, sau đổi tên thành Phạm Việt Tử], từ Liễu Châu qua vì bị loại khỏi tổ chức Việt Cách—chống đối kịch liệt. Thoạt tiên, họ cố thuyết phục Khanh phải cải tổ Việt Cách, cho phép Hội Giải Phóng gia nhập. Tảng lờ những đòi hỏi này, ngày 14/2/1943, Khanh triệu tập đại hội thành lập phân bộ Việt Cách Côn Minh. Lê Tùng Sơn và Dương Bảo Sơn bèn dẫn khoảng 30 người tới định phá hội, nhưng không thành công. Hai tuần sau, ngày 28/2, Dương Bảo Sơn dẫn 3 người vào văn phòng VNQDĐ, cãi nhau với Vũ Quang Phẩm về một bài “nhục mạ” trên báo Tiếng Gọi của VNQDĐ, rồi hành hung Phẩm. 

Những vụ tai tiếng kể trên khiến Vũ Hồng Khanh phần nào mất uy tín với tỉnh bộ QDĐTH tại Vân Nam. Thêm vào đó, chủ trương của Trùng Khánh bắt đầu thay đổi từ mùa Xuân 1943—sau khi Josef Stalin tuyên bố giải tán Quốc Tế Cộng Sản (15/5/1943), Trùng Khánh gián đoạn bang giao với chế độ Pétain ở Vichy (9/1943), và phe Đồng Minh ngày một thắng thế trên khắp các mặt trận. Mùa Hè 1943, Trương Phát Khuê chuẩn bị cải tổ Việt Cách để bao gồm đủ các màu sắc chính trị của Việt Nam, đặc biệt là Hội Giải Phóng của nhóm Lê Tùng Sơn ở Côn Minh, và Phân Hội Việt Nam Quốc Tế Chống Xâm Lược [QTCXL] trong nội địa mà HCM là lãnh tụ. 

Phe VNQDĐ cực lực phản đối chính sách “Đại Đoàn Kết” này. Vũ Hồng Khanh chỉ gửi một đại diện là Trần Gia Nghĩa đến dự. Dẫu vậy, Tiêu Văn vẫn cho đại hội tiến hành từ 25 tới 28/3/1944. Các đại diện tranh luận gay gắt, đặc biệt giữa hai phe không CS và CS. Ngày 28/3, Đại Hội thông qua các quyết nghị và bầu xong Ban Chấp Hành mới, gồm có 7 ủy viên chính thức (Trương Bội Công, Trương Trung Phụng, Trần Báo, Bồ Xuân Luật, Nghiêm Kế Tổ, Lê Tùng Sơn và Trần Đình Xuyên; Hồ Chí Minh được bầu làm Ủy viên dự khuyết). Ban Giám Sát gồm 3 ủy viên Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, và Nông Kính Giu. Đáng lưu ý là cả Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam (đã trốn qua Quảng Tây từ mùa Xuân 1943 sau khi sai Hà Tôn Lý ám sát Trần Hy Thánh) không có tên trong ban Chấp Hành. Mặc dù VNQDĐ vẫn nhiều đại diện, nhưng chỉ có Khanh và Tổ là đáng kể. Trương Trung Phụng có thiện cảm với nhóm Hồ Chí Minh, và Trần Báo là một nhân vật tông tích bất minh. Với Lê Tùng Sơn nằm trong Ban Thường Vụ, Việt Cách trên thực tế bị phe CS thống trị.

Việc Tiêu Văn ép đưa HCM và Lê Tùng Sơn vào Ban Chấp Hành Việt Cách “thống nhất” hay “đoàn kết” gây công phẫn trong các phe nhóm không Cộng Sản. Tại Côn Minh, Vũ Hồng Khanh công khai chống hợp tác với Cộng Sản. Mặc dù ngày 19/6, Việt Minh và VNQDĐ cùng đứng ra tổ chức lễ truy điệu lần thứ 14 ngày tang Yên Báy—với sự tham dự của Dương Tử Giang, Lê Tùng Sơn, Vũ Văn Được và Cô Nhung của Phụ Nữ Cứu Quốc Đoàn (34) —Khanh khẳng định hoặc có Khanh, hoặc có Sơn.

Để giải quyết khó khăn, ngày 23/6/1944, Tiêu Văn bay qua Côn Minh tái tổ chức phân bộ Việt Cách địa phương. Giống như trường hợp ở Liễu Châu, Ban Chấp Hành Côn Minh cũng bị Cộng Sản thống trị. 

Sau Đại Hội Côn Minh, Lê Tùng Sơn lại theo Tiêu Văn trở qua Liễu Châu. Sơn trợ thủ Văn đắc lực đến độ ngày 4/8/1944, Tiêu Văn cho lệnh bắt giữ cả Nghiêm Kế Tổ và Vũ Văn Phẩm ở Đông Hưng để cảnh cáo phe VNQDĐ. Lý do nêu lên là các lãnh đạo VNQDĐ, qua Dương Tử Giang, đã bí mật liên hệ với một sĩ quan liên lạc Bri-tên là Whitehead tại Côn Minh, và đạt thoả thuận hợp tác (Mùa Hè 1944, Dương Tử Giang công bố tin này; Kế Tổ [Chí] nổi giận, khai trừ Giang. Giang bèn gia nhập Đảng CS, và nạp cho Tiêu Văn tài liệu về hiệp ước bí mật với Bri-tên).

Sau ngày đụng chạm với Tiêu Văn ở Quảng Tây, và ngay tại Côn Minh, Vũ Hồng Khanh nỗ lực củng cố các cơ sở tại Vân Nam. Lực lượng hải ngoại của VNQDĐ tại Vân Nam khá mạnh, đặc biệt là trong các cộng đồng Việt kiều ở rải rác theo các đường hỏa xa Hải Phòng-Vân Nam. Khoảng 100 cán bộ vũ trang của VNQDĐ phục vụ trong các đội Biên Chinh Đội của Lư Hán. Trụ sở VNQDĐ vẫn đặt tại khách sạn Việt Hồng, số 74 đường Kim In Lou. Ngày 1/1/1945, VNQDĐ tổ chức Đại hội các Việt kiều làm cách mạng chống Pháp ở Côn Minh. Trong số những đại biểu có Dương Tử Giang (Côn Minh), Hoàng Minh [Quốc?] Chính (Khai Viễn), và Trương Đình An (Mông Tự). Đại hội quyết định gọi Chính về Vân Nam trông coi vùng Mông Tự-Hà Khẩu. Cũng nhân dịp này phát hành đặc san Xuân Tiếng Gọi (CP 192). 

Hoạt động của VNQDĐ khiến ngày 22/2/1945, Achille M. Clarac, Tham vấn toà đại sứ Pháp tại Trùng Khánh, than phiền với George Atcheson, Xử lý Đại sứ Mỹ, là sĩ quan Mỹ đang dính líu đến việc thành lập tại Vân Nam một lực lượng viễn chinh Trung Hoa để tiến vào Đông Dương.

Mùa Hè 1945, sau khi Nhật đã lật đổ Pháp tại nội địa, nhóm Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam liên kết với một số cán bộ Đại Việt từ trong nước ra, do Y sĩ Nguyễn Tiến Hỷ (bí danh Phan Châm) cầm đầu, lập nên Đại Việt Quốc Dân Đảng [ĐVQDĐ] (Cùng qua Trùng Khánh với Hỷ có con gái của y sĩ Trần Văn Lai, người được Kim cử làm Đốc lý Hà Nội ít tháng sau). ĐVQDĐ tự xưng VNQDĐ ở Trung Hoa để xin viện trợ của chính phủ Trùng Khánh cùng Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Tại Việt Nam, thì tự xưng Đại Việt Quốc Dân Đảng hoặc Việt Quốc. Trong dịp này, các giới lãnh đạo QDĐTH đã mở cuộc tiếp tân khoản đãi Khanh, Tam, Thần và Hỷ. Nguyễn Hải Thần, theo một số tài liệu Việt, còn được bổ nhậm làm “cố vấn” cho Trùng Khánh về tình hình Việt Nam (Chúng tôi chưa tìm được một tài liệu nào về vấn đề này). 

Cách nào đi nữa, giới lãnh đạo Trung Hoa chỉ muốn sử dụng lực lượng VNQDĐ để chuẩn bị cho việc Hoa quân nhập Việt, cùng thu lượm tin tức tình báo. Cơ sở quân sự quan trọng nhất của VNQDĐ là Hà Khẩu, đối diện tỉnh lỵ Lào Kay. Nhiều toán VNQDĐ cũng được chia cho các đơn vị tiền quân của Lư Hán đóng dài theo biên giới tỉnh Vân Nam và Bắc Bộ.

IV. LIÊN HIệP QUốC-CộNG:
Như đã lược nhắc, từ sau chiến dịch Meigo, các đảng phái không CS được quân phiệt Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim hết sức giúp đỡ. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp Quốc-Cộng ngày một sắt máu. Phe chống Cộng trong nước rơi dần vào thế yếu—họ đã yểm trợ con ngựa thua cuộc. Cuộc đầu hàng không điều kiện của Nhật đánh dấu một giai đoạn đẫm máu nhất của các cuộc đảng tranh. Sau khi cướp được chính quyền ngày 19/8/1945 tại Hà Nội, HCM cho lệnh thủ tiêu hàng ngàn cán bộ Đại Việt và VNQDĐ với hai tội danh “Việt gian” và “phản cách mạng.”

Chẳng hạn như ngày Thứ tư, 12/9/1945—đúng ngày lễ đầu hàng của Nhật ở Singapore, tiền quân của Lữ đoàn 80 Gurkha Bri-tên tới Sài Gòn chuẩn bị giải giới quân Nhật, và Cao Ủy Pháp, Linh mục/Đô Đốc Georges Thierry d'Argenlieu rời Kandy lên Chanderganor—báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Việt Minh, loan tin “ba tên phản quốc nữa đã bị bắt.” Trong số này có Phạm Ngọc Hàm, “mật thám cho Pháp mới từ Cao Bằng về liên lạc” và Đào Chu Khải, làm “xếp tanh” trên đường Lào Kai-Vân Nam, VNQDĐ ở Vân Nam; sau 9/3/1945, làm “tay sai cho Nhật” (CQ, 12/9/45). Những thủ thuật quen thuộc như “mò tôm” (buộc đá ném xuống sông), hay cắt cổ, mổ bụng, khoét mắt, cắt lưỡi, với những bản án “Việt gian” đính ghim trước ngực được khuyến khích và bảo vệ bằng thứ lý luận “bạo lực cách mạng cần thiết.” Những tay đao thủ phủ nổi danh là Lê Duẩn, Võ Chí Công, Trần Văn Trà [Thắng, Nguyễn Chấn], Hạ Bá Cang, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Phan Đình Đổng [Mai Chí Thọ], v.. v... Lê Duẩn từng đích thân chỉ huy cuộc thảm sát gia đình Kỹ sư Bùi Quang Chiêu—trên danh nghĩa vì tội “Việt Gian,” nhưng nguyên cớ sâu xa là việc Chiêu, năm 1911, đã xúi dại cậu “Nguyễn Tất Thành” [bí danh đầu tiên của Linov Côn] xin nhập học Trường Thuộc Địa trên chuyến tàu rời bến Sài Gòn. Võ Chí Công, Trần Văn Trà và Lê Văn Hiến, trách nhiệm cuộc thảm sát Tạ Thu Thâu, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, v.. v... Đó là chưa kể hàng chục ngàn người bị bắt giữ vì những tội danh tưởng tượng, hoặc chỉ có một tội là yêu nước, nhưng không chấp nhận chủ thuyết “Cộng Sản”—bị đơn giản hoá tối đa để lôi kéo giai tầng nông dân, lao động ít học vấn, tham lam.

Tháng 9/1945, khoảng 200 cán bộ VNQDĐ theo Đệ nhất phương diện quân của Lư Hán vào Bắc Việt theo ngả Khai Viễn vào Lào Kay, và Văn Sơn vào Hà Giang. VNQDĐ liên tục chiếm cứ Lào Kai, Cốc Lếu, Yên Báy, Phú Thọ, Việt Trì, Bạch Hạc, Vĩnh Yên và Vĩnh Phú. Dẫu vậy, ngày 6/11/1945, Vũ Hồng Khanh mới về tới Hà Nội. Vũ Hồng Khanh cùng Nguyễn Tường Tam v.. v.. lập trụ sở ở đường Quan Thánh. Khanh và Tam còn liên kết với Nguyễn Hải Thần và các nhóm Đại Việt—đặc biệt là Trương Tử Anh và Phan Châm—trong một liên minh chống Cộng. Hai tờ Việt Nam Thời Báo của VNQDĐ và Đồng Minh của Việt Cách không ngừng chỉ trích Hồ và Việt Minh. Nhiều cơ sở bí mật cũng được xây dựng để đánh nhau với Việt Minh nếu cần. 

Tuy nhiên, dưới áp lực của Pháp và Trung Hoa, đặc biệt là Tiêu Văn, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần phải chấp nhận tham gia một chính phủ liên hiệp với HCM. Sau nhiều nỗ lực thất bại, ngày 24/12/1945 HCM, Thần và Khanh đạt được thoả hiệp căn bản. Ngày 26/12/1945, báo chí Hà Nội đăng thông cáo “Đoàn Kết” của Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh. 

Nguyên văn:

Ngày 24-12-1945, chúng tôi là Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh thay mặt cho Việt Minh, Quốc Dân Đảng và Cách Mệnh Đồng Minh Hội, cùng ký tên công nhận những điều ước sau đây:

1. Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Căn cứ vào thái độ thân ái, tinh thành cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn trước mắt. Ai dùng ngang vũ lực gây nên những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân ruồng bỏ.

2. Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử, quốc hội và kháng chiến.

3. Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, đôi bên đều đình chỉ hết thẩy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành động.

Ký tên: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh (Cứu Quốc (Hà Nội), 26/12/1945). 

Nguyễn Sinh Côn [HCM] cũng chính thức tuyên bố là từ ngày 1/1/1946, chính phủ lâm thời sẽ mở rộng, gồm 10 bộ. Quốc Dân Đảng sẽ nắm hai bộ Kinh tế Quốc Gia và Vệ Sinh. Đương kim Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà đã nhận lời làm Thứ trưởng. (CQ, 28/12/1945). Ngoài ra, số nghị sĩ trong Quốc Hội, bầu vào ngày 6/1/1946 sắp tới sẽ dành 70 ghế cho phe Quốc Dân Đảng và Việt Cách.

Tuy nhiên, những cuộc chạm súng lẻ tẻ giữa Việt Minh và các phe không Cộng Sản liên tục xảy ra. Đẫm máu nhất là cuộc tàn sát căn cứ của Đại Việt Duy Dân tại Nga My, khiến lãnh tụ Lý Đông A (Nguyễn Hữu Thanh) bị thiệt mạng trong tháng 1/1946. Dẫu vậy, ngày 6/1/1946, cuộc “bầu cử” Quốc Hội vẫn được tiến hành.

Từ trung tuần tháng 2/1946, sau khi Trùng Khánh và Paris đã đạt được những thỏa thuận căn bản cho phép quân Pháp thay quân Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16, quan tướng Tưởng ra sức áp lực các phe phái chống Cộng phải liên hiệp với Hồ Chí Minh. Nguyễn Hải Thần đồng ý làm Phó Chủ tịch, nhưng vắng mặt trong ngày ra mắt tân chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến 2/3/1946, rồi rút lên ẩn náu ở vùng Móng Cáy-Lạng Sơn. Vũ Hồng Khanh, dù không có chân trong cả hai chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến ngày 1/1/1946 và 2/3/1946, được bầu làm lãnh tụ của các đảng phái không Cộng Sản và giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Kháng Chiến, dưới quyền Võ Nguyên Giáp.

5 giờ chiều ngày 6/3/1946, do sự dàn xếp của Trung Hoa và Pháp, Nguyễn Sinh Côn cùng Vũ Hồng Khanh ký Hiệp ước sơ bộ với Jean Sainteny, chấp nhận cho Pháp thay thế Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16 (SHAT, 10H xxx). Cũng dưới áp lực của quan Tướng TH, ngày 12/3, Nguyễn Tường Tam, phải tham gia chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến như một đại biểu của VNQDĐ, với chức Bộ trưởng Ngoại Giao; trong khi Chu Bá Phượng nắm bộ Kinh Tế.

Cuộc hôn nhân miễn cưỡng này khiến VNQDĐ và những tổ chức không CS trở thành nạn nhân tội nghiệp của CSVN. Sau khi Nguyễn Sinh Côn lên đường qua Pháp tiếp tục thương thuyết vào cuối tháng 5/1946, tại nội địa, Võ Giáp cùng các đồng chí bắt đầu tiêu diệt dần các lực lượng chống đối—dưới chiêu bài thống nhất các đơn vị quân sự. Mùa Hè 1946, Vũ Hồng Khanh và rồi Nguyễn Tường Tam v.. v.. đành theo quân Trung Hoa về nước. Nhờ sự tiếp tay của Bộ trưởng Nội Vụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc ấy đang kiêm chức Quyền Chủ tịch Nhà Nước, Giáp và thuộc hạ mặc sức tiêu diệt các đảng phái yêu nước không Cộng Sản. Hàng ngàn cán bộ VNQDĐ bị chôn sống, mò tôm, bắn giết hay bắt giữ. Vụ án sôi nổi nhất là vụ Ôn Như Hầu tại Hà Nội.

Những cuộc thanh trừng còn khốc liệt hơn nữa sau khi Việt Minh đột ngột tấn công các trại binh Pháp tối ngày 19/12/1946, mở rộng cuộc chiến tranh kháng Pháp trên toàn quốc.

V. VNQDĐ SAU BIếN Cố 19/12/1946:

A. Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại:

Tại Hoa Nam, từ mùa Hè 1946, nhóm Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ v.. v... đã phối hợp cùng Nguyễn Hải Thần, Trần Trọng Kim để lập chính phủ lưu vong với Bảo Đại làm minh chủ. 

Nhóm Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh còn lập nên Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại tại Nam Kinh. Số đảng viên gồm khoảng 1,300 người mà hai phần ba là cựu binh sĩ của Vũ Hồng Khanh, đã bị tan rã vào tháng 11/1946, khi quân Pháp bắt đầu hành quân vào vùng Lạng Sơn. Trong số những khuôn mặt nổi có Nguyễn Tường Bách, tức Bảo Tường.

Dù đã lưu vong, VNQDĐ Hải ngoại vẫn không sửa đổi được đặc tính chia rẽ và đố kỵ lẫn nhau. Thực lực chẳng có gì.

Mùa Xuân 1947, qua môi giới của Lưu Đức Trung (tức Bá Đạt, từng cư ngụ ở Đà Nẵng, bị tù vì thụt két), Nguyễn Tường Tam cùng Nguyễn Hải Thần tiếp xúc Bảo Đại với hy vọng thành lập một Đồng minh chống Cộng. Tuy nhiên, cuối cùng các viên chức tình báo Pháp loại bỏ họ khỏi vòng ảnh hưởng của Bảo Đại. Nguyễn Tường Tam phải tuyên bố rằng VNQDĐ và Việt Cách của Nguyễn Hải Thần tiếp tục liên kết chặt chẽ để giành độc lập cho tổ quốc. VNQDĐ tiếp tục chiến đấu, chống cả Việt Minh và Pháp, vì những lời Pháp hứa hẹn cho Việt Nam độc lập chỉ là những lời hứa hão huyền. 

Trước tình hình suy thoái của chế độ Tưởng Giới Thạch, nhóm Nguyễn Tường Tam tìm cách thuyết phục người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Ngày 4/1/1948, Tống Tử Văn giao cho nhóm Đỗ Đình Đạo tổ chức VNQDĐ.  Tháng 5/1948, VNQDĐ ra mắt ở Nam Kinh, nhưng không có chút ảnh hưởng nào với những diễn biến chính trị ở Việt Nam. Tháng 11/1948, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Bách tới Thượng Hải xin tiếp kiến William C. Bullitt, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp—người ủng hộ việc thiết lập một chế độ quốc gia chống Cộng tại Việt Nam, qua bài “The Saddest War”—lúc ấy đang chu du Á châu. Bullitt kêu gọi Paris nên bắt chước kinh nghiệm của Mỹ với Philippines (1913) tại Đông Dương, từ bỏ chính sách thuộc địa, chân thành hợp tác với những phần tử quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ "độc lập trong Liên Hiệp Pháp;" đoạn tuyệt với Hồ Chí Minh vì "không thể trao một nước Việt Nam [độc lập] cho những cán bộ của Liên Sô;" cho phép những người Việt quốc gia chuẩn bị việc thực hiện các cơ sở chính trị và quân sự để cai trị đất nước; giao cho phe người Việt quốc gia trách nhiệm việc lôi kéo những phần tử không Cộng Sản khỏi hàng ngũ Việt Minh. Mặc dù trong toàn bài, Bullitt không nhắc gì đến Bảo Đại; nhưng lúc đó Pháp mới ký tạm ước Hạ Long với Bảo Đại, nên có thể coi như bài viết này ủng hộ Bảo Đại. 

Ngày 1/10/1949, Mao Trạch Đông chính thức ra mắt chế độ Cộng Sản ở Bắc Kinh. Ba ngày sau, Lưu Đức Trung cùng Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh lập nên Việt Nam Quốc Dân Cách Mệnh Liên Minh. Tổ chức này qui tụ 210 thành viên mà 117 người gốc Hoa. Ban Chấp hành Trung ương gồm Lưu Đức Trung, Chủ tịch; Nguyễn Hải Thần, Chủ tịch danh dự; Vũ Hồng Khanh, Quân vụ. Bản doanh đặt tại Quảng Châu; và có hai chi nhánh ở Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh.

Sau khi CS chiếm Quảng Châu, Lưu Đức Trung—cựu “cố vấn” của Quốc trưởng Bảo Đại—đặt bản doanh ở Hoi Hao, trên đảo Hải Nam. Trong khi đó, các lãnh tụ VNQDĐ hải ngoại lục tục kéo nhau hồi hương.

B. Quốc Dân Đảng Việt Nam:

Tại nội địa, sau khi quân Pháp làm chủ Hà Nội, các cán bộ VNQDĐ kéo về vùng Tề. Trong số những lãnh tụ có Nhượng Tống, Ngô Thúc Địch, Cung Đình Quỳ, v.. v.. Tháng 8/1947, Cung Đình Quỳ—mới hồi cư về Hà Nội ngày 17/5/1947—được cử làm Tổng Thư ký Phong Trào Quốc Gia Bình Dân, thành lập để đưa Bảo Đại về nước. 

Cung Đình Quỳ (1909-?), xuất thân cán sự Canh Nông, lên tới chức Chủ sự Văn Phòng Thủy Lâm Phủ Toàn Quyền, rồi Tổng Nha Thanh Tra Thủy Lâm và Săn Bắn cho tới tháng 3/1945. Quỳ chỉ bắt đầu hoạt động chính trị sau ngày về hưu vào tháng 6/1945. Dẫu vậy, tháng 3/1946 đã được cử làm Dân biểu VNQDĐ; và ngồi ghế Phó Chủ tịch Quốc Hội. 

Trần Văn Tuyên, bí danh Trần Vĩnh Phúc, một cựu quan lại, cũng đứng ra tổ chức Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn để tham gia phong trào đưa Bảo Đại về cầm quyền.

Cuối năm 1947, do sự khuyến khích của Nghiêm Xuân Thiện, một số cán bộ VNQDĐ tham gia tổ chức Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp (Rassemblement National Vietnamien, VNQGLH) do Lê Văn Hoạch, cựu Thủ tướng Cộng Hoà Nam Kỳ, đề xướng để yểm trợ Bảo Đại về nước cầm đầu một chính phủ chống Cộng. Sau khi Bảo Đại tới vịnh Hạ Long yết kiến Cao Ủy Emille Bollaert trong dịp cuối tuần 6-7/12/1947, Hoạch triệu tập một buổi họp tất cả những nhân sĩ và đại biểu đảng phái tại Đại học Hà Nội ngày 23/12/1947. Tại Hội nghị này, Nghiêm Xuân Thiện cùng bốn nhóm VNQDĐ, Việt Cách, Việt Nam Xã Nông Công Đại Chúng, và Việt Nam Phật Giáo Hội lập nên chi nhánh miền Bắc của VNQGLH. Phạm Văn Bính, Bí thư của Bảo Đại sau này, là Tổng Thư Ký miền Bắc. 

Mặc dù Bảo Đại chưa muốn về nước, cựu hoàng gửi nhiều cán bộ trở lại nội địa để xúc tiến một phong trào mời cựu hoàng hồi hương. Trong khi những nhân vật như Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Hải Thần hay Nguyễn Tường Tam bị gạt bỏ khỏi vòng thân cận của Bảo Đại, các sứ giả của Bảo Đại như Phan Văn Giáo, Phan Huy [Quang] Đán, v.. v... nỗ lực hoạt động.

Nhiều cán bộ VNQDĐ Hải ngoại cũng tìm đường về nước. Đáng kể nhất có Nghiêm Kế Tổ và Đỗ Đình Đạo. Nghiêm Kế Tổ, tức Nghiêm Xuân Chí, là cựu Thứ trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp 1946. Cuối tháng 12/1946, Tổ bị bắt ở Hải Phòng với một thông hành Trung Hoa, và sau đó được phóng thích, qua Hoa Nam hoạt động. Đỗ Đình Đạo (1911-1954) là một điền chủ giàu có, theo Ki-tô giáo. Vì cha bị CS giết nên chống Cộng kịch liệt. Dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, cầm đầu lực lượng thanh niên ở Vĩnh Yên. Trong giai đoạn 8/1945-3/1946, lãnh tụ VNQDĐ ở Vĩnh Yên, rồi theo Trần Trọng Kim qua Trung Hoa. Sau đó, gia nhập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc, ủng hộ thí nghiệm Bảo Đại. Ngày 4/1/1948, Đạo được Tống Tử Văn giao trách nhiệm tổ chức Quốc Dân Đảng Việt Nam tại Hoa Nam. Ngày 18/7/1948—sau khi Bảo Đại gặp Bollaert lần thứ hai tại vịnh Hạ Long, mở đường cho việc công nhận chính phủ lâm thời trung ương của Nguyễn Văn Xuân tại Hà Nội vào tháng 6/1948—Phan Huy [Quang] Đán và Nghiêm Văn Trí mời Đỗ Đình Đạo về Sài Gòn. Ít tuần sau, ngày 8/8, Đạo ra Hà Nội. 

Tháng 9/1948, Cung Đình Quỳ đứng ra tổ chức một đảng bí mật với tên Quốc Dân Đảng Việt Nam. Tham gia tổ chức này có Phan Châm Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Xuân Hãn, Đỗ Đình Đạo, Nghiêm Kế Tổ, Phạm Nguyên Cảnh tự Khải Hoàn. Mục đích chính nhằm qui tụ các thành phần chống Cộng, chống Bảo Đại và chống Pháp. Nhiều cựu đảng viện VNQDĐ và Việt Cách tham gia tổ chức này. Nguyễn Tiến Hỷ, lúc đó đang tị nạn chính trị trong Tòa Lãnh Sự Trung Hoa, được cử giữ chức Tổng Thư Ký. Cung Đình Quỳ đặc trách về tài chính. 

Trong khi đó, nhờ sự khuyến khích của Liên Bang Mỹ và trước hiểm họa Cộng Sản đang thôn tính lục địa Trung Hoa, Pháp đồng ý cho Bảo Đại hồi hương với điều kiện Việt Nam được thống nhất lãnh thổ. Tháng 4/1949, Bảo Đại về nước. Ngày 1/7/1949, Bảo Đại trở thành Quốc trưởng của Quốc Gia Việt Nam, cầm đầu một chính phủ bản xứ chống Cộng chịu trách nhiệm cai quản những vùng đất Pháp chiếm đóng, tức “vùng Tề.”

Để khủng bố các trí thức và các nhà tranh đấu, Đảng CSĐD phát động một chiến dịch thủ tiêu các lãnh tụ chống Cộng. Tại Hà Nội, Giám đốc báo Thời Sự là Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân (1904-1949)—người nghiêng về tiến hóa hơn cách mạng—bị Việt Minh ám sát ngày 8/9/1949. 

Tiếp đến Y sĩ Trương Đình Tri, chủ tịch Hội Đồng An Dân miền bắc chết vì lựu đạn ngày 10/10/1949 tại Hà Nội, và Nguyễn Văn Sâm bị ám sát cùng ngày trên xe buýt tại Chợ Lớn. Tại vùng nông thôn, nhất là Mặt Trận đường số 5, hàng ngàn người chống Cộng bị thảm sát như trong thời tiền sử. Kỷ niệm khó quên nhất thời niên thiếu của tôi là một vị bác họ ở Cẩm Giàng bị xử tử, khoét mắt, cắt lưỡi rồi ném ra ruộng. Cha tôi thì năm 1945 bị buộc đá ném xuống sông Kẻ Sặt, may mắn thoát chết, chạy lên Hà Nội, nhưng cũng bị bắt trở lại, an trí ở những vùng nước độc ma thiêng như Bắc Kạn, Lang Hít, Thái Nguyên, v.. v..

Nguyễn Bình (1910-1951)

Trong thập niên 1940, một nhân vật liên hệ với VNQDĐ—Tư lệnh chiến khu 4 Đông Triều—tạo nhiều huyền thoại. Nhiều hơn một cựu đảng viên QDĐ từng ở tù Côn Đảo cho rằng Trung tướng Nguyễn Bình hay Nguyễn Phương Thảo (1910-1951) thuần túy là người yêu nước, không phải Cộng Sản. Sinh năm 1910 tại Hải Phòng, Thảo học trường làng tới năm 16 tuổi thì đăng ký đi tàu, khi Hải Phòng, lúc Pháp. Năm 1927, làm thợ giặt ở Sài Gòn. Sau gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng, và lại đăng ký đi tàu d'Artagnan của hãng Messageries Maritimes, cũng với nghề giặt ủi. Năm 1929, Thảo bị kết án tù 5 năm, đày ra Côn Đảo, vì hoạt động cho VNQDĐ. Hết hạn, về hoạt động ở Bắc và Nam kỳ. Trong hai năm 1940-1941, tham dự vào những cuộc nổi dạy chống Pháp ở Bắc và Bắc Trung kỳ. Năm 1945 trở thành Tư lệnh Đệ tứ chiến khu, bao trùm vùng Móng Cáy, Cẩm Phả, Hòn Gai. Do sự tiếp tay của Vũ Trọng Khánh, Đốc lý Hải Phòng của chính phủ Trần Trọng Kim, quân đội dưới quyền Thảo bí mật làm chủ Hải Phòng từ ngày 23-24/8/1945. Tháng 8/1945, Thảo đánh nhau với quân TH ở vùng Quảng Yên và Hải Phòng. Theo yêu cầu của Lư Hán, HCM hạ ngục Thảo, rồi đưa vào Nam chỉ huy quân sự. Ngày 12/6/1946, sau khi chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị của Nguyễn Văn Thinh ra đời, dưới danh nghĩa Khu trưởng Khu 7 Vệ Quốc Đoàn Việt Nam, Thảo [bí danh Nguyễn Bình], cho lệnh tiêu diệt Thinh và đồng đảng bằng mọi giá (10H xxx). Bình cũng chứng tỏ biệt tài quân sự, khiến đối thủ chính là Raoul Salan phải nể phục, đánh giá Bình cao hơn Võ Nguyên Giáp. Năm 1949, Trung tướng Salan nhận định:

"Tôi đặt Bình cao hơn [Võ] Giáp một bậc. Tôi cũng hiểu rằng Giáp không yên tâm, và coi Bình như một kẻ thù mà ông ta bắt buộc phải giải quyết [Je place [Nguyen] Binh sur un plan supérieur à celui de Giap. Je sais d'ailleurs que celui-ci s'inquiète et voit en Binh un rival dont il s'efforcera par la suite de se débarasser]." (Raoul Salan, Mémoires, 1971, II:134). 

Từ 1946 tới 1951, Nguyễn Bình gây cho Pháp nhiều cơn nhức đầu, qua những cuộc phục kích hay biệt kích tại Sài Gòn-Chợ Lớn. Tuy nhiên, Bình cũng tạo nên nhiều kẻ thù gốc miền nam như Lê Văn “Bảy” Viễn, thủ lãnh đảng trộm cướp Bình Xuyên, nhiều lần vào khám ra tù, kể cả một lần bị đày ra Côn Đảo, nhưng trốn được về đất liền, hợp tác với Kempeitai (Hiến Binh Nhật), cùng Năm Lửa Trần Văn Soái qua Lào truy tầm biệt động Bri-tên và Pháp, đồng thời buôn lậu ma túy. Tháng 8/1945, Bảy Viễn ngả theo Việt Minh, phe Trần Văn Giàu, được giao chỉ huy Sài Gòn-Chợ Lớn. Tình báo Pháp cho rằng lực lượng Bình Xuyên đã tấn công Khu cư xá Herault Tân Định đêm 25 rạng 26 tháng 9/1945, tàn sát hàng chục Pháp kiều và bắt đi làm con tin hơn 50 người, rồi thủ tiêu ít lâu sau.Từ năm 1947, Bảy Viễn không ngừng chỉ trích “tên chột Bắc Kỳ” Nguyễn Bình, và có ý hàng Pháp. Gaston Phạm Ngọc Thuần, Phó chủ tịch Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến cũng không ưa Bình. Bởi vậy, tháng 7/1951 Quân Ủy Trung Ương cho lệnh Bình về Bắc. Hơn hai tháng sau, ngày 29/9/1951, Nguyễn Bình bị phục kích chết tại khu vực biên giới Nam Kỳ-Căm Bốt, và tử thương trong tay một đơn vị tuần tiễu Khmer. Sau khi đã giảo nghiệm dấu tay Bình, ngày 30/10/1951, Pháp còn thu được nhật ký của Thảo, từ ngày 26/7 tới 29/9/1951, cùng với nhật ký của Vũ Bắc Nhạc, người chỉ huy toán hộ tống Thảo. Qua hồi ký của Bình, Bộ Tổng Chỉ huy đã cho lệnh Bình nghiên cứu địa thế hầu thiết lập căn cứ bí mật cho Trung Ương Cục Miền Nam đề phòng trường hợp chiến tranh lan rộng. Mặc dù bị sốt rét và lực lượng hộ tống ngày một hao hụt ở khu vực không một dấu chân người, Bình quyết định không trở lại Đồng Tháp Mười để tránh tiếng tham quyền cố vị. Nhân viên tình báo Pháp kết luận rằng Bộ Tổng Tư lệnh Việt Minh đã trên thực tế lến án tử hình Nguyễn Bình [Ainsi le Haut Commandement Viet Minh avait pratiquement condamné Bình]. 

Nhận xét này có vẻ cường điệu, nhưng không thể không nghĩ đến chiến dịch “Mao hóa” Đảng Lao Động Việt Nam cùng các đơn vị Quân Đội Nhân Dân trong thời gian này, để tổng phản công Pháp. Nhiều nhân vật lý lịch không trơn tru—như Khuất Duy Tiến, nguyên chỉ huy trưởng phòng dân quân, bị hạ tầng công tác xuống trung đoàn trưởng. Hay, Đặng Vũ Hiệp cũng bị hạ tầng công tác vì gia đình bị xếp thành phần địa chủ.

C. Giai đoạn 1950-1954:

Ngày 19/12/1949, khi đại quân của Lâm Bưu [Lian Biao] tiến xuống phía nam, Vũ Hồng Khanh trở lại Việt Nam, mang theo gần 10,000 lính TH. Ngày 6/1/1950, Thủ hiến Đặng Hữu Chí thuyết phục được Khanh về hàng. Nguyễn Tường Tam và các lãnh tụ khác cũng lục tục về nước, nhưng Nhất Linh không tích cực hoạt động nữa. Theo Tướng Carpentier, Tổng Tư lệnh Lực Lượng Viễn Đông Pháp, trong chuyến tham quan các đơn vị đầu năm 1950, Carpentier từng ghé thăm một trại gồm 2,500 binh sĩ của Vũ Hồng Khanh tại Lục Nam, gần Phả Lại [Sept Pagodes]. Trong đoàn hồi hương này, không thiếu những người trai trẻ đã phải chạy qua Hoa Nam trong mùa Thu 1946 như Phạm Văn Liễu, cựu sinh viên sĩ quan trường Trần Quốc Tuấn của VNQDĐ. Trong khi đó một số người như Nguyễn Hải Thần quyết định ở lại đất Trung Hoa.

Trong năm 1950, Vũ Hồng Khanh dự Hội nghị quân sự Pháp-Việt tại Đà Lạt, và tham gia Việt Nam Nhân Dân Phản Cộng Trận Tuyến, tức Việt Tuyến. Tháng 6/1950, Khanh vào Nam, tiếp xúc nhóm MTQGLH (Vũ Tam Anh), Việt Đoàn (Trần Văn Ân, Đặng Văn Ký, Phan Khắc Sửu, v.. v...) và Tinh Thần (Trần Văn Đỗ). Ngày 10/6/1950, khi được Thủ tướng Trần Văn Hữu tiếp kiến, Vũ Hồng Khanh tuyên bố sẽ cải tổ VNQDĐ. Tuy nhiên, Khanh gặp sức chống đối mãnh liệt từ nhóm Ngô Thúc Địch. Bởi thế, tại Đại hội thống nhất VNQDĐ ở Hà Nội, Khanh chỉ được 10 phiếu. Ngày 19/7/1950, Vũ Hồng Khanh qua Pháp gặp Bảo Đại. Về nước, cùng Nguyễn Phan Long và Trần Văn Ân lập lực lượng thứ ba, thân Mỹ.

Trong khi đó, ngày 19/4/1951, đối thủ của Vũ Hồng Khanh là Ngô Thúc Địch được bổ nhiệm vào Ủy ban Nghiên cứu việc thành lập Quốc Hội. Ngày 4/2/1952, Ngô Thúc Địch còn được mời dạy tại Đại Học Văn Khoa Hà Nội. 

Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Tiến Hỷ cũng không muốn hợp tác. Nhất Linh chỉ chống lại một cách âm thầm, qua chủ thuyết. Nhưng phe Nguyễn Tiến Hỷ công khai và mạnh bạo hơn. Trong số những cộng sự viên đắc lực của Nguyễn Tiến Hỷ có Cung Đình Quỳ. Ngày 3/3/1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu tiếp kiến và mời Quỳ làm Thủ Hiến Bắc Việt, nhưng Quỳ từ chối vì Hữu không chịu bổ nhiệm Đỗ Đình Đạo làm Giám đốc Cảnh Sát Bắc Việt. Khi Hữu cải tổ chính phủ, Quỳ vận động chức Bộ trưởng Canh Nông, nhưng không thành công.

Đầu năm 1952, các phe nhóm VNQDĐ đồng ý hợp nhất. Sau đó, ngày 17/2/1952, tham dự Đại Hội Liên Minh VNQDĐ và Đại Việt. Giữa năm 1952, VNQDĐ thuận hợp tác với chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Ngô Thúc Địch trở thành Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Cựu Chiến Binh, trong khi Vũ Hồng Khanh chỉ được chức Bộ trưởng Thanh Niên và Thể Thao (SHAT [Vincennes[, 10H xxx), và Cung Đình Quì, Bộ trưởng Canh Nông (SHAT [Vincennes[,10H xxx] Đỗ Đình Đạo, một lãnh tụ thanh niên, làm Giám đốc chương trình quân chính lưu động [GAMO, tức Groupes Administratifs Mobiles Opérationnels] tại Bắc Việt. Nghiêm Kế Tổ được cử làm đại diện Bắc Việt trong Hội Đồng Quốc Gia Lâm Thời.

Trong giai đoạn 1950-1954, phe VNQDĐ miền Trung khá đông, nhưng không có hoạt động công khai đáng kể. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lễ cầm đầu VNQDĐ từ ngày 31/10/1950. (40) Tại miền Nam, VNQDĐ hầu như không hiện hữu. Cựu chiến binh của Đệ Tam Sư Đoàn phân tán thành nhiều mảng. Nguyễn Hòa Hiệp gia nhập Mặt Trận Nam Kỳ của Nguyễn Tấn Cường. Một số đảng viên ngả theo Vũ Hồng Khanh, hoặc “một mình một ngựa.” 

Trần Văn Tuyên thì tách khỏi VNQDĐ, ngả theo Cao Đài. 

(Sưutam)

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Nguyên nhân lãng xẹt của Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất....

TRẢ LẠI CHO LỊCH SỬ NHỮNG GÌ THUỘC VỀ LỊCH SỬ


Cách nay đúng 101 năm, ngày 4/8/1914 là ngày bùng nổ cuộc chiến tranh tàn khốc bậc nhất nhì thế giới,Chiến tranh TG 1. Cuộc chiến này đã lôi cuốn tất cả các cường quốc thế giới lúc đó vào một cuộc chém giết tàn bạo, ghê gớm nhất cho đến lúc đó giữa các quốc gia châu Âu láng giềng vốn đã hòa bình thân thiện gần cả thế kỷ. Và chiến trường khốc liệt nhất lại cũng chính là ở châu Âu. Sau 4 năm chiến tranh 1914 -1918) thì có đến 20 triệu người, cả dân cả lính ở hai phe bỏ mạng. Các nước tan tàn điêu linh thong khổ, kể cả nước thắng trận như Pháp, vì chiến trường chính của Thế chiến này chủ yếu diễn ra ở lãnh thổ nước Pháp. Và Việt Nam ta thời đó cũng có gần 100.000 người lính tham chiến nhưng chủ yếu là làm lính thợ, Chỉ có khoảng 4 tiểu đoàn lính thuộc địa Đông Dương là tham chiến (hình)


Cuộc Chiến Tranh Thế Giới 1 này, mà hồi phần lớn chúng ta đi học dưới mái trường XHCN thì được dạy là do "mâu thuẫn" tích tụ của chủ nghĩa tư bản, do sự vươn lên tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc như Đức,rồi nào là tranh giành thị trường, tranh giành thuộc địa..v..v.. thì chỉ là chuyện tào lao, ngớ ngẩn...

Nguyên nhân trực tiếp thì đơn giản hơn nhiều. Ngày 28 tháng 6 năm 1914, ở thành phố Sarajevo thuộc Bosnia-Herzegovina, một nhóm cực đoan dân tộc tổ chức ám sát Hoàng thái tử nước Áo-Hung để lấy tiếng vang cho yêu cầu độc lập của họ. Cơ hội đến khi ông này đến đó dự tập trận. Các thành viên cảm tử này chia nhau rải rác đứng 3 chốt cảm tử trên đường ông Hoàng đi xe mui trần diễu qua để ra tay. Chốt đầu tiên là chốt chính thì lại khớp quá, không động thủ khi thấy xe của ông Hoàng cùng vợ đi qua nên bỏ cuộc. Đến chốt thứ 2 thì người cảm tử ở đây ném một quả lựu nhưng quả lựu đạn này, chắc là lựu đạn Made in China quá, lại nổ như một quả pháo và nổ tuốt luốt ở sau xe ông Hoàng khiến cho một người cận vệ thân thuộc của ông Hoàng bị thương nhẹ. Vợ chồng ông Hoàng thì vẫn bình yên vô sự. Còn tay cảm tử sau khi ném lựu đạn xong thì lấy thuốc độc ra uống để tự sát. Nhưng chắccó lẽ lại là thuốc độc Trung quốc nên chả chết mà lại còn sống để bị bắt sống...

Như vậy thì cũng không thể có CTTG1, nếu ông Hoàng nghe lời các cận vệ là mau chóng rút về dinh cho chắc. Ông lại ra lệnh tiếp tục cuộc diễu hành trên xe mui trần trên phố. Sau đó còn đến nhà thương để thăm người cận vệ bị thương..

Về phần nhóm khủng bố thì tin thất bại đưa về khiến cả nhóm nhốn nháo, trong đó có một sinh viên 19 tuổi tên là Gavrio Princip, cũng được phân công đứng chốt hạ ở chốt cuối cùng. Nhưng vì là nhóc tì trong nhóm, nên chủ yếu là phòng hờ vì 2 chốt trên là những tay chiến nhất trong nhóm nên được trang bị mạnh để ám sát chứ anh chàng này chẳng có gì ngoài cây súng ngắn.Cả bọn bỏ kế hoạch đã định rồi trở về sào huyệt, họ họp nhóm cãi nhau inh ỏi, và rồi cũng mau thu xếp khăn gói chuẩn bị chuồn chuồn khi kế hoach ám sát ông Hoàng coi như đã phá sản. Và Chiến Tranh Thế Gioi đã không xảy ra..

Nhưng Định Mệnh lại nghiệt ngã hay ông Tạo khéo xoay vần chơi khăm. Chàng sinh viên trẻ G. Princip bực bội bỏ ra ngoài một mình để ăn trưa, và anh không thể tin vào mắt mình khi trong một con hẻm nhỏ anh thấy chiến xe mui trần chở vợ chồng ông Hoàng lù lù chạy tới anh mà không hề có bảo vệ. Thì ra ông Hoàng đi đến bệnh viện thăm cận vệ bị thương, rồi trở ra thì lái xe lạc đường đang chạy vòng vòng tìm đường ra. Princip rút súng ra bắn. Hoàng Thái Tử F.Pherdinant và vợ chết ngay trên xe...

Có thể nói vụ ám sát Hoàng Thái Tử Áo - Hung này của chàng sinh viên Princip là một vụ ám sát gây chấn động thế giới mà khó có vụ ám sát nào so bì được về hệ quả dây chuyền mà nó mang đến. Những ngày sau đó là những ngày điên loạn của các quốc gia châu Âu điên khùng muốn báo thù . Để trả thù, để bênh vực nhau hay để thực hiện các cam kết đồng minh hay để lợi dung thời cơ triệt nhau thì đủ cả. Đế quốc Áo-Hung của ông Hoàng cho rằng chính quyền Secbi đứng đằng sau vụ ám sát trên, mà thực ra trong phiên tòa xét xử vụ này sau đó cũng đã đưa đến sự bất ngờ là không phải do chính quyền Secbi mà chỉ do một nhóm sinh viên cực đoan trong tổ chức có tên Bàn Tay Đen thực hiện vụ ám sát để gây tiếng vang mà thôi. Nhưng các quốc gia hùng mạnh chưa biết điều đó, nên Áo- Hung đã tuyên chiến với Secbi. Nước Anh, Pháp, Nga vì đã có những cam kết ủng hộ Secbi nên cũng tuyên chiến lại với Đế Quốc Áo Hung. Nước Đức ủng hộ Áo- Hung cũng tuyên chiến chống lại Anh, Pháp, Nga...Họ mở màn bằng tấn công Bỉ, Và Anh Pháp tuyên chiến với Đức và thế là CTTG đã bùng nổ và diễn ra kinh hoàng như thế nào thì mọi người đều biết cả..

Người anh hùng G. Princip bị bắt và đưa ra toà cùng các đồng chí của anh. Mặc dù là tay đầu vụ nhưng anh lại thoát án tử, vì giống như sát thủ Lê v Luyện ở ta, Princip chưa tới tuổi thành niên (ở xứ đó là 22) nên anh bị án 18 năm, còn tất cả các đồng đội của anh đều bị xử bắn. Sau đó vài năm G. Princip chết trong tù vì bệnh, và hiện nay anh được người dân xứ Serbi coi như một anh hùng dân tộc. Còn một điều lạ lùng nữa là mặc dù trong 4 năm chiến tranh khủng khiếp đó thì ở Saraevo, nơi bắt nguồn cuộc chiến thì lại bình yên, không có oánh nhau gì hết. Còn đế quốc Áo-Hung với lịch sử hùng mạnh hàng trăm năm, cùng với người anh em chung chiến hào là Đức Quốc cũng bị lật đổ, và kéo theo đó còn có Hoàng Gia hùng manh của Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị lật đổ. và Hoàng Đế Đức Vinhem đã phải đi lưu vong, cùng với Hoàng Đế Thổ, Cả ba Hoàng Gia của ba quốc gia hùng mạnh đã phải sụp đổ chỉ sau mấy năm chiến tranh bởi một chàng sát thủ nghiệp dư, và cũng bởi cái chết ngớ ngẩn của người kế vị Đế Quốc Áo-Hung, Hoàng thái tử F. Pherdinant gây ra....

Đây là một bài học kinh nghiệm xương máu cho tất cả các QG tham chiến đó. Có rất nhiều bài học mà các quốc gia này đã học được qua 4 năm trường khói lửa. Đó là xúc tiến việc thành lập Hội Quốc Liên, tiền thân của LHQ sau này. Các nước không lập nên Liên Minh Quân Sự, hay ký kết Hiệp Ước Bảo Vệ nhau nếu có các liên minh này có khả năng chiến tranh với nhau. Hoặc không bao giờ xây dựng những Hiệp Ước quân sự ràng buộc với những quốc gia có tiềm tàng nguy cơ gây chiến tranh, cũng như phải có những định chế khắt khe về việc tuyên chiến phải do Quốc Hội và Trưng Cầu Dân Ý. Nên trong sự việc Biển Đông của Việt Nam ta đã có nhiều cái đầu đất trong nước cứ mong muốn rằng Hoa Kỳ sẽ ký hiệp ước liên kết, liên minh quân sự với Viêt Nam. Đó là chuyện nằm mơ giữa ban ngày, vì không bao giờ Hoa Kỳ lại có một hiệp ước tương tự như vậy, vì Việt Nam vẫn là một quốc gia CS nhà nòi, tuy không thuần chủng lai đời F1 nhưng cũng chiếm đa phần là dòng máu chiến Mac-Le-Mao . Nên dây vào một quốc gia khật khùng với tâm tính bất định như Việt Nam ta thì anh Mỹ chẳng dại gì đi đổ vỏ trong khi bọn khác ăn ốc rồi. Và cho dù Hoa Kỳ dù có "giãy chết" đến đâu đi nữa thì cũng không dở hơi để làm chuyện của một thằng ngu. Vì họ cũng học được rất nhiều qua cuộc chiến TG1 rồi, và họ cũng không ngô ngọng gì để bị lôi cuốn vào những cuộc chiến trah tan nát điêu linh cho bao dân tộc vô tội như cuộc chiến trah thế giới ấy, mà lại chỉ vì những nguyên nhân tào lao, mía lao như rứa...

Chiến tranh không phải là trò đùa...

MTA

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Sức mạnh khủng khiếp của máy bay ném bom B-2 Mỹ

Giới thiệu loại máy bay ném bom khủng của Mỹ


Không quân Mỹ đã điều ba máy bay ném bom B-2 Spirit tới căn cứ Andersen nằm trên đảo Guam. Hành động này được tuyên bố là tiếp tục thể hiện cam kết của Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy, có nhiều hành động khiến cộng đồng quốc tế quan ngại.
Không quân Mỹ đã điều ba máy bay ném bom B-2 Spirit tới căn cứ Andersen nằm trên đảo Guam. Hành động này được tuyên bố là tiếp tục thể hiện cam kết của Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy, có nhiều hành động khiến cộng đồng quốc tế quan ngại.
B-2 Spirit (Bóng ma) là máy bay ném bom chiến lược do Tập đoàn Northrop Grumman phát triển từ những năm 1980 nhằm đối phó với Liên Xô. Đây được xem là một trong những oanh tạc cơ nguy hiểm nhất trên thế giới hiện nay. Điểm đáng sợ của B-2 ở đây không tới từ khả năng mang nhiều bom (như B-52), hay bay tốc độ siêu thanh (như B-1B), mà là khả năng tàng hình. Điều đó cho phép nó thâm nhập vào hệ thống phòng không tinh vi, dày đặc nhất của đối phương.
B-2 Spirit (Bóng ma) là máy bay ném bom chiến lược do Tập đoàn Northrop Grumman phát triển từ những năm 1980 nhằm đối phó với Liên Xô. Đây được xem là một trong những oanh tạc cơ nguy hiểm nhất trên thế giới hiện nay. Điểm đáng sợ của B-2 ở đây không tới từ khả năng mang nhiều bom (như B-52), hay bay tốc độ siêu thanh (như B-1B), mà là khả năng tàng hình. Điều đó cho phép nó thâm nhập vào hệ thống phòng không tinh vi, dày đặc nhất của đối phương.
Khả năng tàng hình của B-2 có được nhờ sự kết hợp nhiều công nghệ về thiết kế kiểu dáng, vật liệu. Theo đó, nó có kiểu dáng như một con dơi khổng lồ, không có cánh đuôi, cánh chính được kéo dài kỳ lạ. Cách thiết kế này giúp máy bay đánh trượt sóng radar đi hướng khác, hoặc hấp thụ, giảm được sóng phản xạ, làm hình ảnh trên màn hiện sóng radar bị yếu (hoặc không có).
Khả năng tàng hình của B-2 có được nhờ sự kết hợp nhiều công nghệ về thiết kế kiểu dáng, vật liệu. Theo đó, nó có kiểu dáng như một con dơi khổng lồ, không có cánh đuôi, cánh chính được kéo dài kỳ lạ. Cách thiết kế này giúp máy bay đánh trượt sóng radar đi hướng khác, hoặc hấp thụ, giảm được sóng phản xạ, làm hình ảnh trên màn hiện sóng radar bị yếu (hoặc không có).
Khung thân kết cấu và khoang động cơ B-2 dùng hợp kim titan, còn lại đều do vật liệu phức hợp ghép nối với nhau, do ép ở áp suất cao nên không cần dùng đinh tán. Do vậy máy bay không dễ phản xạ tín hiệu radar.
Khung thân kết cấu và khoang động cơ B-2 dùng hợp kim titan, còn lại đều do vật liệu phức hợp ghép nối với nhau, do ép ở áp suất cao nên không cần dùng đinh tán. Do vậy máy bay không dễ phản xạ tín hiệu radar.
B-2 sử dụng vật liệu phức hợp đá đen và sợi than có trọng lượng nhẹ, cường độ chịu lực lớn, phản xạ sóng radar cực nhỏ. Trên bề mặt vật liệu có dạng tổ ong liti hấp thụ sóng radar.
B-2 sử dụng vật liệu phức hợp đá đen và sợi than có trọng lượng nhẹ, cường độ chịu lực lớn, phản xạ sóng radar cực nhỏ. Trên bề mặt vật liệu có dạng tổ ong liti hấp thụ sóng radar.
Mép trước cánh máy bay B-2 được phủ lớp sơn hấp thụ sóng radar và thiết kế có lỗ rỗng kiểu tổ ong không thành qui tắc. Vì vậy, sóng radar khi chiếu vào khó phản xạ lại.
Mép trước cánh máy bay B-2 được phủ lớp sơn hấp thụ sóng radar và thiết kế có lỗ rỗng kiểu tổ ong không thành qui tắc. Vì vậy, sóng radar khi chiếu vào khó phản xạ lại.
Động cơ của B-2 lắp bộ trộn dòng khí, lấy không khí lạnh dẫn vào buồng đốt động cơ và tua bin, làm hạ thấp nhiệt độ mặt ngoài. Loa phụt động cơ nằm sâu trong thân máy bay, qua đó giảm đáng kể tín hiệu hồng ngoại. Biện pháp này nhằm đối phó với khí tài hồng ngoại của đối phương có thể sử dụng để phát hiện máy bay qua tín hiệu nhiệt động cơ.
Động cơ của B-2 lắp bộ trộn dòng khí, lấy không khí lạnh dẫn vào buồng đốt động cơ và tua bin, làm hạ thấp nhiệt độ mặt ngoài. Loa phụt động cơ nằm sâu trong thân máy bay, qua đó giảm đáng kể tín hiệu hồng ngoại. Biện pháp này nhằm đối phó với khí tài hồng ngoại của đối phương có thể sử dụng để phát hiện máy bay qua tín hiệu nhiệt động cơ.
B-2 trang bị 4 động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy F118-GE-100 cho phép đạt tốc độ 1.010 km/h, tầm bay 10.400km, trần bay 15.000m.
B-2 trang bị 4 động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy F118-GE-100 cho phép đạt tốc độ 1.010 km/h, tầm bay 10.400km, trần bay 15.000m.
Với những biện pháp kỹ thuật trên đã đem lại cho B-2 khả năng tàng hình tuyệt vời. Nó đã được chứng minh trong nhiều cuộc chiến mà B-2 tham gia. Đặc biệt nhất, một sự kiện đã làm thế giới quân sự phải “choáng” trước khả năng của B-2. Tháng 6/1995, Mỹ đã đưa B-2 tới tham dự triển lãm hàng không Paris (Pháp). Trước khi xuất phát, Mỹ đã thông báo cho Pháp đường bay của B-2. Quân đội Pháp đã ra lệnh cho trạm radar cảnh giới sục sạo nhưng không thể nào phát hiện được B-2 cho tới khi hạ độ cao lộ diện trước con mắt người thật.
Với những biện pháp kỹ thuật trên đã đem lại cho B-2 khả năng tàng hình tuyệt vời. Nó đã được chứng minh trong nhiều cuộc chiến mà B-2 tham gia. Đặc biệt nhất, một sự kiện đã làm thế giới quân sự phải “choáng” trước khả năng của B-2. Tháng 6/1995, Mỹ đã đưa B-2 tới tham dự triển lãm hàng không Paris (Pháp). Trước khi xuất phát, Mỹ đã thông báo cho Pháp đường bay của B-2. Quân đội Pháp đã ra lệnh cho trạm radar cảnh giới sục sạo nhưng không thể nào phát hiện được B-2 cho tới khi hạ độ cao lộ diện trước con mắt người thật.
B-2 trang bị những công nghệ điện tử hàng không tiến tiến gồm: hệ thống radar mạng pha điện tử bị động AN/APQ-81 cung cấp chế độ ngắm mục tiêu, hỗ trợ B-2 bay bám sát và tránh địa hình; hệ thống định vị hàng không; hệ thống đối phó trả đũa điện tử. Ảnh: Buồng lái chỉ cần hai người điều khiển của B-2, ít hơn nhiều so với B-1B hay B-52. Điều đó cho thấy máy bay có tính tự động hóa cực cao.
B-2 trang bị những công nghệ điện tử hàng không tiến tiến gồm: hệ thống radar mạng pha điện tử bị động AN/APQ-81 cung cấp chế độ ngắm mục tiêu, hỗ trợ B-2 bay bám sát và tránh địa hình; hệ thống định vị hàng không; hệ thống đối phó trả đũa điện tử. Ảnh: Buồng lái chỉ cần hai người điều khiển của B-2, ít hơn nhiều so với B-1B hay B-52. Điều đó cho thấy máy bay có tính tự động hóa cực cao.
Ngoài năng lực tàng hình, B-2 còn có sức tấn công mạnh mẽ với khả năng mang 23 tấn vũ khí gồm: 80 bom Mk-82 227kg hoặc 36 bom CBU 350kg hoặc 16 bom hạt nhân B61 trên giá phóng quay. Thậm chí, B-2 còn có thể mang bom thông minh dẫn đường GPS JDAM.
Ngoài năng lực tàng hình, B-2 còn có sức tấn công mạnh mẽ với khả năng mang 23 tấn vũ khí gồm: 80 bom Mk-82 227kg hoặc 36 bom CBU 350kg hoặc 16 bom hạt nhân B61 trên giá phóng quay. Thậm chí, B-2 còn có thể mang bom thông minh dẫn đường GPS JDAM.
Ảnh máy bay ném bom B-2 đang thả những vũ khí hủy diệt kinh người.
Ảnh máy bay ném bom B-2 đang thả những vũ khí hủy diệt kinh người.

Theo chân Đức Thầy - Tưởng nhớ ngày Đức Hùynh Phú Sổ thọ nạn...

Nguyễn Quang Duy



Dầu những kẻ vô tình với nước,
Cũng tỉnh hồn mơ ước tự do.
Tiếng vang độc lập reo hò,
Từ Nam chí Bắc nung lò khí thiêng.
Quyết phen này kết liên một khối,
Đem máu đào tắm gội giang san.
(Lời Kêu Gọi của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ)

Sáu câu thơ trên trong bài “Khuyến Nông” được Đức Thầy sáng tác vào tháng 4 năm 1945. Khi ấy ở Âu Châu Khối Đồng Minh đang thắng thế. Còn ở Việt Nam Nhật vừa đảo chánh Pháp. Người Nhật trao trả độc lập cho miền Bắc và miền Trung nhưng giữ lại miền Nam. Trước cảnh hàng triệu đồng bào miền Bắc đang chết vì trận đói do Pháp Nhật gây ra, Đức Thầy đã sáng tác bài thơ “Khuyến Nông” để kêu gọi nông dân miền Nam chăm lo cày cấy cứu đói miền Bắc và đòan kết chiến đấu để giành lại Tự Do.

Lịch sử dường như đang lập lại, Khối Tự Do ngày càng xóa dần các thể chế độc tài và độc tài cộng sản. Các dân tộc Bắc Phi và Trung Đông đang lần lượt đứng lên để giành lại tự do. Trong khi Việt Nam thiểu số cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục đưa đất nước vào con đường bị thuộc người Tàu, dân tình đói khổ, xã hội phân chia, nhân tâm ly tán, đạo lý suy đồi… Lời kêu gọi tòan dân đứng lên giành lại Tự Do của Đức Thầy vì thế không phải chỉ còn nguyên giá trị như ngày nào, mà còn có thể xem là những lời Tiên Tri về vận mệnh đất nước. Tiên tri ngày Tòan Dân kết liên đứng lên giải thể bạo quyền cộng sản.

Người viết đã được sống trong một gia đình Phật Giáo Hòa Hảo tại vùng Đồng Tiến, Đồng Tháp (Mười), vào những năm 1980-81, nhờ vậy mới biết đến Đức Thầy và quan sát cuộc sống hành đạo của đồng bào Phật Giáo Hòa Hảo.

Người thanh niên, 19 tuổi, Hùynh Phú Sổ xuất thân từ Dân Tộc dựa vào lòng từ bi, bác ái, vị tha của Phật Giáo, chỉ trong thời gian rất ngắn đã quy tụ được hằng triệu người và xây dựng được Phật Giáo Hòa Hảo một Tôn giáo đang càng ngày càng phát triển.

Đức Thầy Hùynh Phú Sổ còn sáng lập Dân Xã Đảng, một Tổ Chức chính trị theo nguyên tắc “chủ quyền ở nơi tòan thể nhân dân”, với chủ trương “ Tòan Dân Chính Trị” và chống độc tài bất cứ hình thức nào. Hai mươi năm trước, các dân tộc Đông Âu và Liên Sô đã đứng lên giành lại tự do. Ngày nay các dân tộc Bắc Phi và Trung Đông đã kết liên đứng lên giải thể các chế độ độc tài. Có thế mới thấy tư tưởng “ Tòan Dân Chính Trị” là một tư tưởng đi trước thời đại để nhận rõ sức mạnh tòan dân, sẽ là yếu tố quyết định tự do cho Dân tộc.

Ngược lại, những người theo chủ nghĩa quốc tế cộng sản phải dùng bạo lực để cướp và nắm độc quyền chính trị nhưng lại đang bị lịch sử đào thải. Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ bị tiêu diệt khi tòan dân một lòng đứng dậy.

Học lời giảng, học tư tưởng của Đức Hùynh Phú Sổ mỗi người được giác ở một góc cạnh khác nhau và mỗi thời điểm có thể tiếp nhận lời giảng của Đức Thầy một cách khác. Người viết xin được gởi đến bạn đọc vài suy nghĩ về Bốn Điều Ân được Đức Thầy truyền giảng trong hòan cảnh hiện nay. Cũng xin được viết để tỏ lòng tri ân những chiến sỹ dân chủ đang vì tự do, vì dân chủ, vì vẹn tòan lãnh thổ, ngày đêm đấu tranh giải thể bạo quyền cộng sản. Đặc biệt xin gởi đến Cụ Lê Quang Liêm và anh chị trong Đòan Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo Yêu Nước, những con dân Việt Nam đầy ý chí kiên cường bất khuất sống “vì Đạo vì Thấy” và sẵn sàng chết “vì Đạo vì Thấy”. 

Ân Đất Nước

Ân đất nước là điều ân thứ hai trong bốn điều Ân, là điều Ân cần được suy ngẫm nhất trong hòan cảnh đất nước hiện nay. Ân đất nước truyền dạy con dân phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng, xây dựng đất nước cho được cường thạnh, cứu nguy đất nước khi bị ngọai bang thống trị, tùy tài tùy sức hy sinh cho xứ sở. Nếu không làm được như trên thì phải tránh làm cho nước nhà đau khổ và chớ tiếp tay với ngọai bang xâm lược làm tổn hại đến đất nước.

Phật Giáo Hòa Hảo là một tôn giáo xuất thân từ lòng dân tộc, sinh tồn và phát triển gắn liền với vận mệnh của quê hương đất nước. Theo lời Đức Thầy truyền dạy để đáp đền Ân Đất Nước hằng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã hy sinh chống Pháp giành độc lập, chống cộng sản để bảo vệ và xây dựng miền Nam Tự Do và đang tiếp tục đấu tranh giành lại tự do, dân chủ và công bằng xã hội.

Ngược lại những người cộng sản theo quốc tế, lấy đấu tranh giai cấp làm phương tiện cướp và cầm quyền. Trong tư tưởng người cộng sản lấy quốc tế cộng sản, lấy ngọai bang làm đồng chí anh em. Hòang sa, Trường sa, Bản Giốc và nhiều phần đất nước quê hương hiện đang trong tay quân giặc. Bauxite Tây Nguyên, rừng Việt Nam cũng không thóat khỏi tay Tàu cộng. Ngay cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam phải được Tàu cộng phê chuẩn chấp nhận nên bọn họ được ví như những thái thú trong thời Bắc Thuộc.

Nhưng những người cộng sản lại xem những người đồng chủng không chấp nhận cộng sản là kẻ thù và sẵn sàng ra tay đàn áp tiêu diệt. Nhục mất nước, nhục làm thân nô lệ nhưng lại tàn ác với dân cũng chỉ vì những người cộng sản đã bán rẻ linh hồn và thể xác cho ngọai bang Trung cộng. Để tiếp tục cầm quyền thiểu số lãnh đạo cộng sản luôn sẵn sàng làm tay sai cho Tàu cộng, tiếp tục đàn áp dân lành và bán đứng quê hương đất nước.

Từ các Cuộc Cách Mạng tại Bắc Phi và Trung Đông, hương Hoa Lài đang tỏa đến Việt Nam. Để giữ gìn và làm tròn Ân Đất Nước, các tín đồ Hòa Hảo đang tiếp tục theo chân Đức Thầy cùng Dân Tộc đứng lên cứu quốc.

Nói vắn tắc những người đấu tranh cho tự do hay các tín đồ Hòa Hảo theo lời Đức Thầy dạy dựa vào dân tộc chiến đấu cho quyền lợi Tổ Quốc quyền Dân Tộc. Trong khi thiểu số cầm quyền cộng sản dựa vào ngọai bang Trung cộng, vì quyền lợi cá nhân hay quyền lợi ngọai bang. Thế và lực của Phong Trào dân chủ là dựa vào Dân Tộc còn thế và lực của bạo quyền cộng sản là từ đàn anh Trung cộng. Dân càng ngày càng trực diện đối đầu với bạo quyền cộng sản. Trung cộng thì phải đối đầu với dân chúng Trung Hoa và thế giới tự do. Thế và lực vì vậy càng ngày càng nghiêng về phía dân tộc và Phong trào dân chủ Việt Nam.

Ở mặt khác, vì thiểu số cộng sản đang cầm quyền nên không thể tránh được có những tín đồ Hòa Hảo buộc lòng phải làm việc trong bộ máy cai trị của bạo quyền cộng sản. Bộ máy Quân Đội hay Cảnh sát cũng phải thâu dụng các tín đồ Hòa Hảo. Đây là lúc để tròn Ân Đất Nước những người này quay lại với Đức Thầy với Dân Tộc Việt Nam.

Bài học từ cuộc Cách Mạng Hoa Lài cho thấy Thế Giới Tự Do luôn đứng về phía quần chúng nhân dân là những người có quyền chọn lựa thể chế chính trị cho dù cuộc nổi dậy có vũ trang bạo động. Bài học từ Lybia cho thấy nếu thiểu số cầm quyền cộng sản nổ súng vào dân thì họ đã gây tội ác chống nhân loại, họ là mối đe dọa cho hòa bình và an ninh thế giới. Và thế giới tự do sẽ can thiệp mang Tự Do đến cho những người yêu chuộng Tự Do. Đã đến lúc các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nói riêng, người Việt nói chung trong Quân Đội hay Công An cộng sản vững tin mang khí giới quay về với với Đức Thầy với Dân tộc góp một bàn tay giải thể bạo quyền cộng sản.

Ân Tổ Tiên Cha Mẹ

Dân tộc Việt Nam lấy lòng biết ơn cha mẹ tổ tiên làm nền tảng gia đình và xã hội. Vì thế các tôn giáo đều hòa đồng với dân tộc chấp nhận và khuyến khích tín đồ phải hiếu nghĩa thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Ở Phật Giáo Hòa Hảo, Đức Thầy đặt ân tổ tiên cha mẹ lên trên ân tam bảo. Có ông bà cha mẹ mới có chúng ta. Có đất nước mới có chúng ta. Có chúng ta mới có việc giữ gìn Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Đức Thầy còn dạy rằng chúng ta cần sáng suốt: “Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn cản.” Lấy ví dụ cha mẹ chúng ta theo cộng sản đàn áp người dân làm việc thất nhân tâm thì bổn phận làm con phải khuyên lơn cha mẹ quay về với dân tộc.

Đức Thầy cũng dạy: “Còn đền ơn tổ-tiên, đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, …” trong lúc này lời dạy cũng dành cho những người hiện đang trong bộ máy cai trị của bạo quyền cộng sản đừng làm điều tồi bại điếm nhục gia phong. Người trong đảng thì xây dựng cơ sở để sửa sọan ngày đứng lên giải thể bạo quyền cộng sản. Người trong bộ máy Cảnh sát hay Quân Đội thì chớ nổ súng vào dân mà phải xây dựng cơ sở để đón ngày mang khí giới về bảo vệ nhân dân, bảo vệ thôn làng, bảo vệ quê hương, bảo vệ xứ sở.

Ân Tam Bảo

Ân Tam Bảo là ân Phật, Pháp, Tăng đã khai mở trí óc cho chúng ta sáng suốt. Phật giáo Hòa Hảo lấy tinh thần từ bi, bác ái, vị tha này của Đức Phật làm căn bản cho Đạo Nhân và lấy Chánh (Sự Thật) làm nền tảng xây dựng Đạo Hạnh.

Ngược lại, người cộng sản lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng, lấy tuyên truyền dối trá làm công cụ để cướp và nắm quyền. Cho nên sau sáu mươi năm đảng Cộng sản cầm quyền, Việt Nam trở thành một nơi văn hóa suy đồi, xã hội bất công, loạn lạc, Đạo giáo trong hồi mạc vận.

Người tín đồ Hòa Hảo trước tiên phải tu thân sau đó phải truyền giảng Phật Pháp đến chúng sinh. Dưới chế độ cộng sản, mọi quyền tự do đều bị tước đọat, kể cả quyền tự do tôn giáo. Chính vì thế đấu tranh cho Tự Do cũng là để đền Ân Tam Bảo và giữ gìn Đạo Pháp.

Ngòai việc dựa trên tinh thần Phật giáo và lời dạy của Đức Thầy, Phật Gáo Hòa Hỏa còn xây dựng một cơ cấu tổ chức xuống đến hạ tầng cơ sở nông thôn miền Tây Nam phhần. Chính vì thế sau khi chiếm được miền Nam, cộng sản đã không ngừng xuống tay đàn áp Phật Giáo Hòa Hảo. Bao tín đồ Hòa Hảo đã hy sinh hay còn đang bị giam cầm trong lao tù cộng sản chỉ vì đồng tâm thực hiện Tứ Ân Đức Thầy giảng dạy.

Ân Đồng Bào – Nhân Loại

Ân Đồng Bào – Nhân Loại là ân từ sự giúp đỡ của những người chung quanh.

Trong hoàn cảnh Việt Nam chúng ta cũng tri ân những những người đã giúp đỡ hay đã hy sinh để duy trì một miền Nam tự do (1954-1975). Chúng ta cũng tri ân thế giới tự do đã mở rộng bàn tay đón nhận những người tỵ nạn cộng sản Việt Nam và tiếp tục hỗ trợ nỗ lực mang tự do dân chủ đến với Việt Nam.

Đức Thầy giảng: “Đồng-bào ta và ta có một liên-quan mật-thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và chẳng khi nào có ta mà không có đồng-bào, hay có đồng-bào mà không có ta. Thế nên ta phải ráng giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.” Chúng ta ao ước Việt Nam có tự do, thì chúng ta cũng phải mang ơn những chiến sỹ Dân chủ Quốc Nội đang ngày đêm đấu tranh để giành lại tự do. Xin góp một bàn tay, một tấm lòng để yểm trợ các chiến sỹ tại quê nhà để tỏ lòng tri ân những người đang ra sức đấu tranh.

Lời thầy kêu gọi kết liên chiến đấu để giành lại tự do năm 1945 nay vẫn còn nguyên giá trị. Đất nước đang trong hồi mạc vận, độc lập dân tộc mất dần vào tay Tàu cộng, để đền đáp Tứ Ân chúng ta cần góp công, góp sức, góp trí để vận động tòan dân đứng lên giải thể bạo quyền cộng sản. Đó chính là nỗ lực của Cụ Lê Quang Liêm và anh chị trong Đòan Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo Yêu Nước những người tiên phong theo chân Đức Thầy Hùynh Phú Sổ đền đáp Tứ Ân đứng lên cứu quốc.

Cũng vào tháng 4 năm 1945, Đức Thầy đã sáng tác bài thơ “Gọi Đòan Tráng Sĩ” để kêu gọi thanh niên hy sinh xây dựng nền tự do cho dân tộc. Tám câu đầu của bài thơ như sau:

Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn tráng sĩ,
Nhìn thời xưa hùng vĩ nước nhà ta.
Bắc Nam một giải san hà,
Mồ hôi giọt máu ông cha tài bồi.
Trải qua cũng lắm hồi vận bỉ,
Rồi anh em tráng sĩ đứng lên.
Liều mình đục pháo xông tên,
Liều mình giết giặc xây nền Tự Do.
(Lời Kêu Gọi của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ)

Trong mùa Đức Thầy thọ nạn, những vần thơ được Đức Thầy sáng tác năm nào như truyền lại để sửa sọan kêu gọi con dân nước Việt hãy kết liên đứng lên cứu Quốc giải thể bạo quyền cộng sản. Trong thế tất thắng của dân tộc, còn đợi gì chưa nắm tay nhau, chung lòng, chung sức, chung chí hướng nối bước lên đường Đức Thầy đã đi mang lại Tự Do cho Việt Nam quê hương yêu dấu của chúng ta.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015

Hai quả bom nguyên tử và cái giá đáng để trả...

TRẢ LẠI CHO LỊCH SỬ NHỮNG GÌ CỦA LỊCH SỬ...

Lâu nay sử lề phải và những điều dạy học lịch sử thế giới cho học sinh Việt Nam thì ta luôn nghe thấy một luận thuyết rằng, việc ném 2 qủa bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki vào những ngày 6 - 9/8/1945 là hoàn toàn không cần thiết, gây nên thảm cảnh cho nước Nhật khi cuộc chiến đã gần tàn, khi nước Nhật đã đứng trước việc đầu hàng không tránh khỏi...



Vậy ta thử quay lại thời điểm của việc hình thành và ném những quả bom nguyên tử xuống nước Nhật này xem luận điểm đó có lý không nhé.

Thật sự thì dự án chế tạo bom nguyên tử có tên dự án Manhattan được bắt đầu không phải lấy nước Nhật làm mục đích đầu tiên, mà là nhà nước phát xít Đức mới là mục tiêu. Vì dự án vĩ đại này là để ngăn chặn nước Đức cũng đang đeo đuổi việc sản xuất bom nguyên tử cho mục tiêu bá chủ thế giới thì dự án này đã được khởi động vào giữa những năm 1943, với tất cả các nhà khoa học tài năng nhất của nước Mỹ, Anh...và với cái giá kinh khủng là 2 tỷ đô la thời đó ở vùng bí mật Los Alamos, New Mexico. 

Qua bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu bài toán kỹ thuật tưởng như không thể vượt qua được thì đến khoảng tháng 8/1945 thì dự án này mới thành công. Nhưng lúc này nước Đức phát xít đã đầu hàng (9/5/1945), và mục tiêu sản xuất bom nguyên tử để ngăn chặn kẻ thù sản xuất vũ khí nguyên tử không còn lý do nữa. Vì nước Nhật không có khả năng sản xuất vũ khí nguyên tử, và trách nhiệm đặt lên vai tân tổng thống Hoa Kỳ H. Truman (vừa lên thay thế tổng thống Rudovel vừa qua đời).

Nước Nhật hoàn toàn không phải là một quốc gia sắp bại trận mà gần như còn nguyên vẹn sức lực cùng bộ máy chiến tranh. Cho đến tháng 8/1945 thì các lãnh thổ rộng lớn mà họ xâm lược vẫn gần như nguyên vẹn. Trừ thủ đô và vài vùng của Philiphin là được giải phóng, còn lãnh thổ xâm chiếm của nước Nhật vẫn mênh mông và trải dài từ Mãn Châu, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kong, Đông Dương trong đó có Việt Nam rồi Sinhgapor, Miến Điện..v..v.. vẫn nguyên vẹn. 

Chiến dich "Nhảy Cóc" nổi tiếng của tướng Mỹ M.Atơ và TQLC Mỹ đã đạt nhiều thắng lợi với những vùng đảo chiếm được nhưng với cái giá thực nặng nề cho quân đồng minh, mà Hoa Kỳ là chủ lực. Nhất là trận chiến kinh hoàng nhất trong chiến tranh TG 2 ở Thái Bình Dương là trận đánh chiếm đảo Okinaoa mới vừa kết thúc với 20.000 thương vong về phía TQLC Mỹ, và 100.00 thương vong về phía Nhật. Đây là một trận đánh kéo dài nhiều tháng với sự anh hùng và sự hy sinh vô cùng hào hùng của cả kẻ thắng lẫn người thua, và là một thiên anh hùng ca bất diệt của người dân Nhật Bản khi chấp nhận hy sinh để bảo vệ tổ quốc.

Và đấy là tinh thần không chỉ ở Okinaoa mà ở tất cả các lãnh thổ Nhật xâm chiếm, và đặc biệt là trong nước Nhật. Các ổ đề kháng cực mạnh và quyết tử được thành lập khắp nơi với tinh thần sống mái với kẻ thù ngoại xâm. Vì nước Nhật chưa bao giờ bị xâm lược. Người Nhật không bao giờ có ý định đầu hàng. Người Nhật mặc dù đã mất hết hạm đội hải quân và không quân nhưng vẫn kiên cường chống trả. Và thực tế thì chỉ trừ trận đánh giải phóng thủ đô Manila của Philiphin thì chưa có một trận đụng độ thực sự nào trên đất liền cả. Lục quân Nhật vẫn rất mạnh sẵn sàng chiến đấu đến cùng trên lãnh thổ chiếm đóng còn rộng mênh mông và chưa sứt mẻ gì. (Ngay cả sau này khi đã ném 2 quả bom nguyên tử rồi, đứng trước việc Thiên Hoàng Hiro Hito sắp phải đọc diễn văn đầu hàng thì vẫn có một cuộc đảo chính của các quân nhân trẻ cực đoan để đòi chiến đấu tới chết chứ không chịu đầu hàng. Cuộc đảo chánh thất bại, và những người đảo chánh đều đã mổ bụng tự sát. Và khi Hoàng Đế đọc lời đầu hàng thì có đến hàng chục ngàn người, cả dân cả lính mổ bụng tự sát. Người Mỹ đã dự trù nếu phải chinh phục được nước Nhật thì sẽ có từ 1.5 triệu thương vong, với thời gian từ 3 - 5 năm...Và nước Mỹ đã chấp nhận mọi sự hy sinh này để kết thúc cuộc chiến.

Và sự thành công của dự án bom nguyên tử này đã đến đúng lúc. Thử nghiệm thành công của quả bom đầu tiên cũng vừa mới được xác nhận, và chỉ trước khi Mỹ quyết định ném quả bom đầu tiên xuống Hiroshima có 30 ngày. Và họ cũng mới chỉ sản xuất được 3 quả bom nguyên tử. Một quả đã thử thành công. Chỉ còn 2 quả đưa sang để dự kiến ném xuống nước Nhật. 

Và TT Truman đã quyết định chọn lựa biện pháp ném bom để tránh việc chiến tranh kéo dài cùng với việc hy sinh vô ích của hai phía. Để cho người Nhật kinh hoàng cũng như tưởng người Mỹ có nhiều bom nguyên tử nên lúc đó người Mỹ đã quyết định ném liên tục, cách nhau 3 này một trái. Và Hiroshima cùng Nagashaki là 2 trong số 5 thành phố đã được chọn (không có thủ đô Tokio) sẽ là nơi sẽ bị ném bom. Và chỉ vì thời tiết tốt lúc đó mà Hiroshima và Nagasaki trở thành những thành phố bị ném bom nguyên tử khiến hơn 250.000 ngàn nạn nhân vô tội bị thiệt mạng oan uổng...

Nhưng cũng chính vì thế mà nước Nhật mới chịu đầu hàng vô điều kiện 15/8/1945 (nước Nhật chỉ chịu đầu hàng với điều kiện duy nhất là Hoàng Gia Nhật phải được bảo đảm an toàn và không bị xét xử) và hàng triệu mạng sống của hai bên đã được cứu sống...

Đây là một dự án vĩ đại và mang lại thành công lớn lao cho thế giới văn minh. Nếu có gì chê trách thì chỉ chê trách vì vấn đề an ninh lỏng lẻo mà dự án này đã để cho 3 gián điệp của Liên Xô, trong đó có một cặp vợ chồng gốc Do Thái (Vợ chồng Rosenberg.đã bị xử tử năm 1953) lọt vào và gửi tài liệu về LX. Để 4 năm sau, 1949 Liên Xô cũng thủ đắc vũ khí nguyên tử này và khơi mào cho cuộc chiến tranh lạnh của vũ khí nguyên tử nhiều năm sau đó...

MTA

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Vòng cung Kursk: Trận đấu xe tăng lớn nhất trong lịch sử nhân loại..

Trong ba ngày, hai bên đã tung vào trận đánh những binh đoàn xe tăng hùng mạnh nhất với tổng số lên đến trên 1.200 xe tăng và pháo chống tăng tự hành.
Hơn 1.000 xe tăng của Liên Xô và Đức quyết chiến gần thành phố Kursk suốt hai tháng năm 1943, trong trận chiến xe tăng lớn nhất lịch sử các cuộc chiến tranh
Trận vòng cung Kursk (lịch sử Nga gọi là Chiến dịch phòng ngự – phản công Kursk) là một trong những chiến dịch lớn nhất trên chiến trường Xô-Đức trong Thế chiến thứ hai, kéo dài từ ngày 5 tháng 7 đến 23 tháng 8 năm 1943 giữa quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã tại vùng đồng bằng giữa các thành phố Kursk và Kharkov thuộc Liên Xô (cũ), nay thuộc miền trung tây nước Nga và đông Ukraina.
Liên Xô đã phải trả một cái giá rất đắt cho thắng lợi tại trận Vòng cung Kursk.
Trận Vòng cung Kursk là một chiến thắng mang tính chiến lược có ý nghĩa quyết định đến cục diện chiến trường. Thắng lợi của Hồng quân đã đẩy quân đội Đức quốc xã từ thế chủ động lâm vào thế bị động.Tuy nhiên, cái giá của chiến thắng không hề rẻ. Theo số liệu của nhà sử học Grigoriy Krivosheyev, trong trận Kursk, 429.890 chiến sĩ Hồng quân hy sinh, tổng số quân hy sinh và thương vong lên đến 685.456 người.
Trong chiến dịch này, có trận đánh này nổi tiếng là trận đấu xe tăng lớn nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh bắt đầu từ ngày 10 tháng 7 tại Pokrovka và lên đến đến đỉnh điểm là ngày 12 tháng 7 tại cánh đồng Prokhorovka. Trong ba ngày, hai bên đã tung vào trận đánh những binh đoàn xe tăng hùng mạnh nhất với tổng số lên đến trên 1.200 xe tăng và pháo chống tăng tự hành.
Sau thất bại tại Stalingrad, mùa hè năm 1943, quân đội Đức quốc xã đã quyết định tổ chức một cuộc tấn công quy mô lớn vào khu vực vòng cung Kursk nhằm làm suy yếu tiềm năng của Liên Xô. Hitler cho rằng một chiến thắng ở đây sẽ khẳng định sức mạnh của Đức, nâng cao uy tín với các đồng minh đang muốn rút khỏi cuộc chiến.
Để phục vụ cho trận đánh chiến lược quyết định này, quân đội Đức quốc xã đã huy động 22 sư đoàn bộ binh với tổng quân số 912.460 binh lính, 17 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn bộ binh cơ giới với tổng số 2.982 xe tăng các loại trong đó có 800 chiếc Tiger – loại xe tăng chiến đấu chủ lực lừng danh của Đức, 9.966 khẩu pháo các loại, 2.110 máy bay chiến đấu. Lực lượng này chiếm đến 17% số sư đoàn bộ binh, 70% số sư đoàn xe tăng, 30% số sư đoàn cơ giới và 60% số máy bay của Đức trên mặt trận phía Đông.
Hitler đã đặt mật danh cho chiến dịch này là Citadel. Ông chính là người đã khai sinh việc đặt mật danh cho các chiến dịch quân sự lớn về sau. Theo sắc lệnh số 6 do Hitler phát hành, tập đoàn quân Trung tâm do Thống chế Günther von Kluge chỉ huy phối hợp cùng Tập đoàn quân số 9 do tướng Walter Model lãnh đạo tạo thành gọng kìm ở phía Bắc.
Tập đoàn quân phía Nam do Thống chế Erich von Manstein chỉ huy phối hợp cùng Quân đoàn Panzer 4 tấn công vào khu vực phía Nam. Ban đầu chiến dịch Citadel dự định sẽ bắt đầu vào ngày 3/5/1943, nhưng sau đó Hitler đã cho hoãn chiến dịch đến ngày 12/6. Ông cho rằng, xe tăng là chìa khóa của chiến dịch nên tiếp tục hoãn chiến dịch đến ngày 5/7 để chờ đợi các vũ khí mới như xe tăng Panzer và nâng cấp xe tăng Tiger.
Về phía Liên Xô, từ các thông tin tình báo và trinh sát thu thập được, Nguyên soái Georgy Zhukov khẳng định rằng, quân đội Đức sẽ tiến hành một chiến dịch quân sự lớn vào khu vực Kursk cách 450 km về phía tây nam Moscow.
Nguyên soái Zhukov đề nghị xây dựng tuyến phòng ngự vững chắc kéo quân Đức sa vào cái bẫy để đập tan lực lượng thiết giáp, tạo điều kiện cho một cuộc phản công quy mô lớn nhằm giành thắng lợi quyết định. Hồng quân đã xây dựng 6 vành đai phòng thủ với chiều sâu 130-150 km trong đó có 3 khu vực phòng ngự chính với chiều sâu 40 km.
Lực lượng công binh Hồng quân đã cài 503.663 quả mìn chống tăng, 439.348 quả mìn sát thương trên 3 khu vực phòng ngự chính. 4.800 km giao thông hào đã được đào chằng chịt trong khu vực. Các bãi mìn tại khu vực Kursk có mật độ 1.700 quả mìn sát thương và 1.500 mìn chống tăng trên km 2, gấp 4 lần mật độ được sử dụng để bảo vệ Moscow.
Lực lượng huy động cho chiến dịch phòng ngự tại vòng cung Kursk lên đến 1,3 triệu quân, 3.600 xe tăng các loại, 20.000 khẩu pháo chủ yếu là pháo chống tăng, 2.729 máy bay chiến đấu các loại. Lực lượng này chiếm 26% tổng quân số Hồng quân, 26% lực lượng pháo binh, 35% máy bay và 46% lực lượng tăng thiết giáp. Việc hoãn kế hoạch tấn công muộn hơn 2 tháng của Đức đã tạo thêm thời gian cho Hồng quân xây dựng tuyến phòng ngự kỹ lưỡng nhất.
Tổn thất về trang thiết bị vũ khí rất lớn, 1.614 xe tăng bị phá hủy trong tổng số 3.600 chiếc tham chiến. 2.349 khẩu pháo các loại bị phá hủy, 1.116 máy bay bị bắn rơi. Các số liệu về tổn thất của quân Đức không rõ ràng. Theo nhà sử học Karl-Heinz Frieser, khoảng 198.000 binh lính thiệt mạng hoặc bị thương, 760 xe tăng bị phá hủy, 524 máy bay bị bắn rơi. Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng nói “Trận Stalingrad là kết thúc của sự khởi đầu nhưng trận Kursk là khởi đầu của sự kết thúc”.
(Theo Infonet)